CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VÀ PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ 1. Khái quát chung về bảo hộ chỉ dẫn địa lý 1. Khái niệm chỉ dẫn địa lý, bảo hộ chỉ dẫn địa lý * Khái niệm về chỉ dẫn địa lý: “Ngày nay, trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các hàng hóa, sản phẩm ngày càng phổ biến như: hàng giả, hàng nhái và kém chất lượng tràn lan trên thị trường. Các đặc sản từ các vùng miền hay các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được nhiều quốc gia quan tâm. Chỉ dẫn địa lý là khái niệm đã được nghiên cứu và quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới và trong các điều ước quốc tế khác nhau.” “Theo Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền SHTT năm 1994 (Hiệp định TRIPs) thì chỉ dẫn địa lý được định nghĩa là “những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định” 2. “Tại Thái Lan, Luật chỉ dẫn địa lý quy định: “Chỉ dẫn địa lý là tên biểu tượng hoặc bất cứ một chỉ dẫn nào dùng để chỉ về một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia và có khả năng phân biệt hàng hóa xuất xứ đó có chất lượng danh tiếng hoặc các đặc tính khác chủ yếu do nguồn gốc địa lý tạo nên”3.
“Tại Malaysia, Luật chỉ dẫn địa lý (2000) quy định: “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn phân biệt bất cứ hàng hóa có nguồn gốc trong một quốc gia, lãnh thổ, một vùng, một địa phương trong quốc gia đó hoặc lãnh thổ đó, có chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của hàng hóa chủ yếu do nguồn gốc địa lý của hàng hóa quyết”định” 4. “Từ các khái niệm về chỉ dẫn địa lý của các quốc gia nêu trên, chỉ dẫn địa lý 2 Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) 3 Điều 26, Luật Chỉ dẫn địa lý năm 2003 Thái Lan 4 Điều 29 Luật Chỉ dẫn địa lý Malaisya năm 2000 11 có thể hiểu là những dấu hiệu bất kỳ (yếu tố về đất, nước, khí hậu, con người, địa danh….) để chỉ ra nguồn gốc của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, khai thác từ lãnh thổ, địa phương hay một khu vực nhất định. Trong đó, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có chất lượng, uy tín hoặc xuất xứ địa lý quyết định các tính chất về đặc tính của sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa mang chỉ dẫn địa”lý. Ở Việt Nam, khái niệm về CDĐL được quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT): “CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”.
“Như vậy, khái niệm về CDĐL theo quy định của Luật SHTT tại Việt Nam có nhiều đặc điểm tương thích với khái niệm mà hiện nay các điều ước quốc tế và pháp luật một số nước trên thế giới đang quy định. Cụ thể, CDĐL có thể hiểu là những dấu hiệu bất kỳ để nhận biết được nguồn gốc của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, chế biến, khai thác từ lãnh thổ, quốc gia hay một khu vực địa lý nhất định. Trong đó, chất lượng, uy tín hoặc đặc tính của sản phẩm mang CDĐL chủ yếu là do nguồn gốc, xuất xứ địa lý quyết định.” *Khái niệm về bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, các nhà sản xuất càng muốn khẳng định được chất lượng, nguồn gốc của hàng hóa do mình sản xuất ra phải có sự khác biệt so với các hàng hóa cùng loại để tạo sự thỏa mãn các nhu cầu của người tiêu dùng. Người tiêu dùng đặt niềm tin hơn và lựa chọn hàng hóa nhờ chất lượng sản phẩm được đảm bảo và danh tiếng của hàng hóa được được gắn liền với một địa danh nổi tiếng hay nói cách khác là sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý.
Chính vì thế, các chủ thể khác có thể lợi dụng điều đó để tạo ra những sản phẩm kém chất lượng như hàng giả, hàng nhái dẫn đến việc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng với sản phẩm có tên gọi gắn liền với chỉ dẫn địa lý đó. Việc sử dụng CDĐL trái với quy định của pháp luật sẽ dẫn đến những thiệt hại to lớn cho người sử dụng khi mua những sản phẩm không đúng xuất xứ, nguồn gốc như cam kết, làm mất lòng tin của người tiêu dùng. Để bảo vệ uy tín của sản phẩm thì nhu cầu về BHCDĐL càng được chú trọng. Hiện nay, CDĐL càng nổi tiếng trên thị trường thì nhu cầu về 12 BHCDĐL đó giúp chống lại với những hành vi xâm phạm quyền đối với CDĐL càng lớn.
Hiện nay, vấn đề BHCDĐL không còn đặt ra trong khuôn khổ của một khu vực, quốc gia hay một vùng lãnh thổ nó trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, được luật hóa trong các điều ước, thỏa ước quốc tế mà mọi quốc gia đều quan tâm.” “Khi chỉ dẫn địa lý được pháp luật thừa nhận thì tất yếu cần thiết phải đặt ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ, ngăn chặn và chống lại những hành vi xâm phạm từ các chủ thể khác. Do đó, pháp luật của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam ghi nhận và thực hiện bảo vệ chỉ dẫn địa lý chống lại các hành vi xâm phạm và Việt Nam cũng quy định các biện pháp ngăn chặn, xử lý các hành vi này bằng những chế tài tương ứng với mức độ vi phạm. Từ những phân tích trên, có thể hiểu về bảo hộ chỉ dẫn địa lý là Nhà nước thông qua các quy định của pháp luật quy định về việc xác lập, công nhận và thực hiện quyền đối với chỉ dẫn địa lý và đưa ra các chế tài để chống lại hành vi xâm phạm quyền từ các chủ thể khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm phạm. Đặc điểm của chỉ dẫn địa lý - Thứ nhất, CDĐL là sản phẩm có nguồn gốc địa lý từ một khu vực địa lý nhất định (khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước) tương ứng với chỉ dẫn địa lý.
“Đặc điểm này thể hiện khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý phải có ranh giới được xác định chính xác bằng từ ngữ và bản đồ, tên gọi, biểu tượng hình ảnh đó phải có thực và chỉ thuộc về khu vực địa phương đó. Khu vực địa lý này có thể là một đơn vị hành chính quốc gia, khu vực địa lý thuộc một hay nhiều đơn vị hành chính hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Trong trường hợp khu vực địa lý không thuộc toàn bộ đơn vị hoặc các đơn vị hành chính, bản đồ khu vực địa lý đó sẽ được lập theo khu vực sản xuất thực tế sản phẩm chỉ dẫn địa lý tương ứng, được cơ quan quản lý khu vực đó xác nhận. Khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý phải được dùng với mục đích duy nhất để chỉ rõ sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc được sản xuất từ khu vực địa phương đó chứ không phải được gắn trên hàng hóa hay bao bì của hàng hóa nhằm mục đích trang trí cho đẹp hay vi bất kỳ mục đích nào”khác.
13 “Chẳng hạn, CDĐL là sản phẩm có nguồn gốc địa lý từ khu vực, vùng lãnh thổ được bảo hộ tại Việt Nam như: CDĐL Rượu “Scotch whisky”, đây là sản phẩm có nguồn gốc từ đất nước Scốt-len (một quốc gia tại Châu Âu). Tại Việt Nam cũng đã có nhiều chỉ dẫn địa lý một đơn vị hành chính quốc gia, khu vực địa lý thuộc một hay nhiều đơn vị hành chính; CDĐL “Thanh long Bình Thuận”.“Khu vực địa lý tương ứng với CDĐL Thanh long Bình Thuận gồm: các huyện Hàm Tân, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình và thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận;”CDĐL “Nước mắm Phú Quốc” áp dụng cho khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý “Nước mắm Phú Quốc” gồm: huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, là hòn đảo lớn nhất Việt Nam nằm giữa Vịnh Thái Lan, nơi địa đầu phía Nam của Tổ quốc; CDĐL “Sâm củ ngọc Linh” gắn liền với tên của một ngọn núi Ngọc Linh nằm giữa tỉnh Quảng Nam và Kon Tum, áp dụng cho khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý “Sâm củ Ngọc Linh” gồm: Kon Tum và Quảng”Nam5. - Thứ hai, CDĐL áp dụng cho sản phẩm có chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của hàng hóa chủ yếu do nguồn gốc địa lý của hàng hóa quyết định “Đặc điểm này thể hiện, CDĐL là sản phẩm mang đặc tính riêng biệt, gắn với khu vực địa lý nhất định. CDĐL gắn với một vùng lãnh thổ xác định, được hình thành nên bởi nhiều cấu phần, trong đó đặc biệt là các điều kiện tự nhiên: khí hậu, đất đai, hệ thực vật, thủy văn… Sản phẩm đó phải có ít nhất có một tính chất đặc thù về chất lượng hoặc có danh tiếng liên quan đến điều kiện địa lý tự nhiên, con người của địa phương đó.
Đặc điểm này đã giúp phân biệt hai khái niệm dễ gây nhầm lẫn đó là chỉ dẫn nguồn gốc, được đề cập tới trong Công ước Paris. Theo đó, chỉ dẫn nguồn gốc là dấu hiệu chỉ ra tên địa lý của một quốc gia, một khu vực hay một vùng cụ thể nơi sản phẩm được tạo ra mà không cần dựa trên chất lượng hay tính chất đặc thù của sản phẩm. Chỉ dẫn nguồn gốc khác với chỉ dẫn địa lý ở chỗ chỉ dẫn nguồn gốc không có một sự đảm bảo nào về chất lượng đặc biệt của sản phẩm, mà chỉ đơn giản là giúp người tiêu dùng nhận biết được sản phẩm đó sản xuất từ đâu, ví dụ: có nguồn gốc ở Việt Nam hay ở Ấn Độ. Các điều kiện địa lý 5 TS.
Đinh Hữu Phí (chủ biên) (2018). Chỉ dẫn địa lý - Di sản thiên nhiên và văn hóa Việt, Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ, ISSN 978-604-966-341-3 14 của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng liên quan đến chỉ dẫn địa lý bao gồm hai yếu tố cơ bản hội tụ nên đó là: yếu tố tự nhiên và yếu tố con người.