CHƯƠNG 1: MOT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VE CHỈ DẦN ĐỊA LÝ VÀ BẢO HO CHI DAN DIA LÝ 1.1 Khái quát chung về chi dẫn địa lý 1.1 Khái tiệm chi dan địa lý Thuật ngữ CDĐL đã dân trở nên quen thuộc và phố biên hơn đối với các quôc gia co nên kinh tê phát triễn và đang phát triển trong đó có V iệt Nam. Mặc da những dau hiệu để chi dẫn về nguén gốc địa ly của hàng hóa đã ra đời được sử dung rông rai từ nhiêu thê kỹ trước trên thê giới nhưng những quy đính về bảo hộ các chỉ dan xuất xứ mới chỉ xuất hiện trong các văn bản. quốc tê CDDL được đề cập lên đầu tai Công ước Pari năm 1883 vệ Bảo hô SHCN dưới tên goi “chỉ dan nguồn gốc” hoặc" tên goi xuat xứ hàng hóa”. Theo Điều 1 Công ước Pari thì CDĐL cũng là một đối tượng bảo hộ SHCN nhung trong C ông ước lại không hệ đưa ra một khái niệm chính xác nào cho CDDL.
Théa ước Marid về chồng các chỉ dẫn sai lệch hoặc nham lẫn về nguồn gộc ngày 14/4/1891 (“Thỏa ước Marid’) và Thöa ước Lisbon về bảo hộ tên goi xuất xứ và ding ký quốc tê tên gọi xuất xứ ngày 40/10/195 (“Thỏa ước Lisbon”) ra đời đã định ng†ĩa cho hai thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gôc” và “tên gọi xuất xứ”. Theo công ước Paris thi Chi dan nguén góc là bat ky dau hiệu hay cách thức thé hiện nào ding dé chi dẫn một sản phẩm có nguồn gốc từ một quốc gia, một khu vực hoặc một vùng dia lý cu thé. Tuy nhiên, sản phẩm đó không nhật thiết phải có chất lượng đặc thù do yêu tô địa ly tạo nên. Ví đụ: các sản phẩm mang cum từ “Made in China” hay “Made in Vietnam’ là các sin phẩm có nguén gộc từ Trung Quốc và Việt Nam.
Trên thực tê, chat lượng của những hàng hoa do không phụ thuộc vào yêu tô địa lý của nơi sản xuất. Kê thừa và phát triển công ước Paris, Thỏa ước Madrid 1891 về đăng ký quốc tê nhấn hiệu hàng hóa đã quy định về chi dan § nguôn gộc: “Bat Ig: sản phẩm nào mang chỉ dẫn sai lệch và lừa đối mà qua đó, một trong số các quốc gia thành viên của thoa ước Madrid hoặc một dia điểm tại nước đó được chỉ dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp là nước hoặc địa điểm xuất xứ hàng nhập khẩu vào bắt lạ quốc gia thành viễn nào của théa ước đều bị tịch th”. Chi dan nguôn gộc được quy định trong Thỏa ước Madrid phi là dâu hiệu chi dan chính xác về một quéc gia hoặc một dia điểm trong một quốc gia ma tại đó, hàng hóa được tạo ra Chi dan nguôn gốc không được quy đính trong Thỏa ước Lisbon, ngược lai Thỏa ước Lisbon nhac tới khái niém “tên gọi xuất xứ”. Theo thöa ước thì tên gọi xuat xử hàng hóa cân có bồn điêu kiện: () Tên gọi xuât xứ phải là tên dia lý của một nước, mét khu vực, hoặc một địa phương, (1) tên gọi xuat xứ nhằm.
giúp xác định nơi xuat xử của một sản phẩm và khu vực dia lý, (iii) hang hóa mang tên gọi xuất xử phải có chat lượng và các đặc tính đặc thủ riêng biệt, (iv) chất lượng và tính chất đặc thù phai có méi liên hệ với môi trường địa lý và cơ bản nhờ vào điều kiện địa lý, nêu sự liên hệ về chất lương sản pham và khu vực địa lý không đủ, nghĩa là các tiêu chuẩn chất lượng không cao, ma chỉ ở một mức độ nhỏ thi sản phẩm do không được gắn với tên gọi xuât xứ Có thé hiểu các điều kiện địa lý bao gém: dat đa, khi hậu, về cơn người gồm truyền thông nghệ nghiệp, kỹ năng, kỹ xão của những người sản xuất. So với khái niém “chi dan nguồn gốc” thi khái niệm “tên gọi xuất xứ" lại được quy dinh mét cách chất chế và có điều kiện khó đáp úng được, nhất là về môi liên hệ giữa sản phẩm với các yêu tô địa lý tại nơi sản xuất ra sản. phẩm, đây cũng là nguyên nhân trực tiếp dan đến việc hạn chê sự tham. gia của các nước thành viên vào Thöa ước Lisbon.
Năm 1994 Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyên SHTT ra đời đã đưa ra môt đình nghĩa chính xác và đây đủ nhật cho CDDL, theo đó: CDĐL ( Geographical Indications) được hiểu là một chỉ dẫn nhằm xác định một sản phẩm có xuất xứ trên lãnh thé của một nước thành viên hoặc mét ving, một khu vực dia lý của nước đó mà chất lượng, danh tiéng hay các đặc tính khác của sản phẩm chit yếu có được do nguồn gốc dia I này mang lai. Theo định nghĩa này thì mét sản phẩm được mang CDĐL là sản phẩm phải có ba điêu kiện: Thứ nhất, các chỉ dẫn này có dâu hiệu bat ky tử ngữ, kí hiệu, hình ảnh) miễn là qua đó thé hiện được hàng hóa mang CDĐL được bảo hộ bắt nguén từ lãnh thô của quốc gia nào hoặc thuộc khu vực địa phương nào của lãnh thô quốc gia đó. Tuy nhiên dau hiệu trên hang hóa phải liên quan đến một quốc gia cu thể hoặc mét địa phương, khu vực của một quốc gia cụ thê đến mức qua dâu hiệu người tiêu ding biết được hang hóa bắt nguôn từ đâu. Thứ hai, hàng hoa mang CDDL phải có nguồn gốc từ mét quốc gia hoặc từ một địa phương ma hàng hóa do được xác dinh mang CDDL.
hàng hóa mang CDĐL phải co chat lượng, uy tín hoặc đặc tính nhật định chủ yêu do quốc gia hay khu vực địa phương dan là nơi hàng hóa bất nguôn quy định. Dé dang nhận thay sự khác nhau và mức độ bao quát của chỉ dén nguôn góc, tên gọi xuất xứ và CDDL. Chỉ dẫn nguồn gốc là khải tiệm lớn nhật bao gồm cễ tên goi xuất xứ và CDĐL, tuy nhiên tên gọi xuật xứ lai có những quy định mang tính chặt chế và ràng buộc hơnCDĐL Ì Với tinh chất toàn câu của Hiệp định TRIPS, CDĐL đã được sử dụng phô biên tại nhiêu quốc gia khác nhau”. Theo quy định của Luật SHCN Ba Lan ngày 30/6/2000: %€DĐL là từ chi định rõ ràng tên của mot dia điểm, địa phương, ving hoặc quốc gia, xác định một hang hóa có nguén gộc xuất xứ từ lãnh thé đó và chất lượng anh tiếng, hoặc các đặc trưng khác của hang hóa là do nguồn gốc địa lý của hang hóa đó tao nên”.
Theo Đạo luật CDĐL Án Độ năm 1999 thì: “CDDL là chỉ dan xác đính các hàng hóa như sản phẩm nông nghiệp, các sản phẩm tự nhiên, hoặc sản phẩm có chê biên nguén goc hoặc được sản xuất ở lãnh thé của mét quốc gia, khu vực hoặc địa phương trong lãnh thd đó, nơi mà chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc trưng khác của những sản. phẩm nhu vậy là do nguồn gốc địa lý tạo nên và trong trường hợp những hàng hóa nlx vay là hang hóa được chê biên thi một trong các hoạt động nhw hoạt đông sản xuất ' Điều2 Thỏa tước Lisbon về đăng ký quốc tế và bảo hộ tên goi suit sát năm 1958, sửa đôi bố sưng năm 1967 và 1979. * Phan Thi Hong An (2017), Moi quan hi giữa nhấn hiệu va CDDL trong pháp hit SHTT VN- thực tiến và kit nghị, Khóa hân tot nghiệp cirnhin Luật, Tường dh Luật tp HCM, tr 16 10 hoặc chê biên hoặc tham gia của hang hóa đó phải diễn ra ở vùng lãnh thô, khu vực hoặc địa phương”. Tại Việt Nam CDDL lân đầu tiên được định nghĩa với thuật ngữ“ tên gọi xuât xứ hàng hoa” quy định tại Điều 786 Bộ luật dan sự năm 1995, như sau: “ Tên gi xuất xứ hang hóa là tên địa lý của nước, địa phương dùng dé chỉ xuât xứ của mat hàng từ nước, địa phương đó với điêu kiện những mắt hàng này có tình chất, chất lượng đặc thù dua trên các điều kiện địa lý độc đáo va ưu việt, bao gồm yêu tổ tự nhiên, con người hoặc kết hợp với cả hai yêu tô đó”.
Ngày 24 tháng 10 năm 1996, Nghị định số 63/ND-CP của Chỉnh phủ quy định chi tiết hơn về SHCN được ban hành: quy định cụ thé hơn nội dung liên quan đến tên gọi xuất xu hàng hóa. Ngày 10 tháng 3 năm 2000 Nghị định Chính phủ số 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, CDĐL, tên thương mai và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành manh liên quan đến SHCN đá đưa ra các quy định về CDĐL về điều kiên bảo hộ, dâu hiéu nhận biét,. Nghị định sô 63/1996/NĐ-CP cũng không đưa ra khái niệm cho CDĐL ma chỉ đưa ra các điều kiện, dâu liệu nhận biệt đó là CDĐL. Sự ra đời của nghị dinh số 54/2000/NĐ-CP và nghị định sô 63/1996/NĐ-CP đã dẫn đến sự tôn tại song song hai thuật ngữ là CDDL và tên gọi xuất xứ, tình trang nay tiệp tục kéo dai dén năm 2005 khi Luật SHTT 2005 ra đời đã bö thuật ngữ tên gợi xuat xứ hàng hóa, thông nhất chỉ sử dụng thuật ngữ CDĐL.
Đến năm 2009 Luật SHTT sửa đổi và bd sung đã đưa ra định nghĩa ngắn gon hơn về CDĐL và đặc trưng của CDDL được đưa vào phân quy đính về điêu kiên bảo hộ CDĐL chứ không gộp như trong Nghi đính số 54/2000/NĐ-CP. CDĐL đã được định nghĩa như sau: “CDĐL là dấu hiệu ding dé chi sản phẩm có nguồn gốc từ kửu: vực, địa phương, vùng lãnh thé hay quốc gia cụ thểề". Theo quy định trên CDĐL không chi là tên dia lý ma còn là những từ ngữ hình ảnh, biểu tượng hay những yêu tô thê hiện nguén gốc của sản phẩm mang CDĐL. Nguồn gốc của sản phẩm ` Khoin 22 điều 1 Luật SHTT 2005 11 có thé là một địa phương, một khu vực, một vùng lãnh thé hay một một quốc gia cụ thé tương ứng với CDĐL.
Năm 2019, Luật SHTT tiếp tục được sửa đổi và bô sung theo Luật sô 42/2019/QH14 ngày 14 tháng6 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bd sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật SHTT, có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2019 và Luật SHTT số 07/VBHN-VPQH ngày 25/6/2019 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2019 vẫn gữ nguyên định ngiĩa về CDĐL của các văn bản luật trước đây: “CDĐL là dẫu hiệu: dimg dé chi san phẩm cô nguồn gốc từ Khu vực, dia phương ving lãnh thô hay quốc gia cu thé”. Luật SHTT sửa đổi năm 2022 do Quốc hội khóa 15 ban hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2023 đã đính nghĩa lại và bO sung khả niém “CDĐL đồng âm” (hom onymous geographical indication).