CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1. Khái niệm người có công với cách mạng và ưu đãi người có công với cách mạng 1. Khái niệm người có công với cách mạng Theo nghĩa rộng: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc”.
Người có công với cách mạng là người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao to lớn đối với đất nước, tự coi đó là nghĩa vụ đối với cộng đồng không bao giờ kể công và đòi hỏi cộng đồng phải bảo nghĩa. Sự công hiến của người có công với cách mạng là vì lợi ích của đất nước, được nhân dân tôn vinh và được Nhà nước thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận theo quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo cho họ các chế độ ưu đãi về kinh tế, về chính trị, xã hội. Theo khái niệm này, người có công với Nước sẽ không chỉ bao gồm những người có công trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc mà còn bao gồm cả những người có cống hiến đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, những người xả thân bảo vệ cuộc sống yên bình hoặc đem lại thành tích, đem lại vẻ vang cho đất nước, cho dân tộc. Vì vậy, người có công theo cách tiếp cận này sẽ rất rộng và bao gồm nhiều đối tượng khác nhau.
Theo nghĩa hẹp: “Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; trong các cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận. Như vậy, người có công chỉ được xác định là những người có những đóng góp, cống hiến trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hay nói 8 cách khác ở góc độ này, người có công chỉ đồng nghĩa với người có công với cách mạng, tức là những người có đóng góp trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ghi nhận như thương binh, liệt sỹ, người hoạt động và giúp đỡ cách mạng. Dưới góc độ này thì người có công với cách mạng bao gồm những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có những thành tích, đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Khái niệm ưu đãi người có công với cách mạng Những người có công với nước bao giờ cũng được đất nước, dân tộc, xã hội ghi nhận và tôn vinh. Một trong những ghi nhận và thể hiện sự tôn vinh đó là họ được nhà nước, được xã hội dành cho những ưu tiên, đãi ngộ đặc biệt cả về vật chất lẫn tinh thần trong mọi mặt của đời sống xã hội. Những ưu tiên, đãi ngộ đặc biệt hơn bình thường đó được gọi là ưu đãi xã hội.263] Ưu đãi và chăm sóc người có công luôn là một chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta kể từ khi Bác Hồ lấy ngày 27/7 là ngày Thương binh - Liệt sĩ. Trong suốt hơn 70 năm qua, hệ thống pháp luật, chính sách ưu đãi người có công đã không ngừng được hoàn thiện và được thực hiện đồng bộ; góp phần to lớn vào những thành tựu trong lĩnh vực người có công nói riêng, của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nói chung.
Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” trong những năm qua dù ở bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào của đất nước thì công tác chăm lo cho người có công với cách mạng luôn được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm đặc biệt. Ưu đãi xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta được cụ thể hóa thực hiện thông qua hệ thống pháp luật có bề dày lịch sử. Với vai trò là bộ phận cấu thành đặc biệt của hệ thống pháp luật an sinh xã hội Việt Nam, pháp luật ưu đãi xã hội giữ vai trò trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội quốc gia. 70 năm qua, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, có thể điểm qua các giai đoạn: 9 Từ năm 1947 đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1954), Nhà nước đã ban hành 24 văn bản dưới hình thức Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư, Thông lệnh quy định những vấn đề cơ bản như:Quy định tiêu chuẩn để xác định thương binh, tử sĩ; quy định trợ cấp hằng tháng đối với thương binh, thân nhân tử sĩ, việc huấn luyện nghề, sắp xếp việc làm, các chính sách ưu tiên đối với thương binh; gia đình tử sĩ được tặng "Bảng Tổ quốc ghi ơn", thương binh được cấp Huy hiệu Thương binh; tổ chức các Trại an dưỡng để thu nhận và chăm sóc thương binh, bệnh binh; đồng thời tháng 7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào "Đón thương binh về làng" chăm sóc; lập quỹ nghĩa thương; tổ chức bộ máy Bộ Thương binh - Cựu binh.
Thành lập trong mỗi khu kháng chiến một Sở Thương binh - Cựu binh, trong mỗi tỉnh hoặc liên tỉnh một Ty Thương binh - Cựu binh. Như vậy, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù hoàn cảnh đất nước còn nghèo, nhưng Nhà nước đã ban hành một số văn bản thể hiện sự ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, đồng thời đề ra chủ trương hết sức đúng đắn là toàn dân tham gia chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ được quan tâm với việc ban hành 184 văn bản pháp luật, trong đó quy định một số điểm quan trọng như: Tiếp tục xác nhận và giải quyết quyền lợi cho những quân nhân, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bị chết trong chiến tranh; đối với những người hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, Nhà nước đã sửa đổi tiêu chuẩn "liệt sĩ" thay tiêu chuẩn "tử sĩ" trước đây, cấp Bằng Tổ quốc ghi công thay "Bảng Tổ quốc ghi ơn" liệt sĩ; quy định việc cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ngày càng cam go, quyết liệt, Đảng, Nhà nước đã phát động cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với sự đóng góp hy sinh to lớn của mọi tầng lớp, mọi lực lượng, chế độ ưu đãi đối với người có công được bổ sung các đối tượng mới như: Chế độ đối với thanh niên xung phong (Chỉ thị số 71/TTg ngày 21-6- 1965); Chế độ đối với dân công thời chiến (Nghị định số 77/CP ngày 26-4-1966); Chế độ đối với lực lượng vận tải nhân dân (Quyết định số 84/CP ngày 04-5-1966); 10 Chế độ đối với công nhân viên chức, cán bộ giữ chức vụ chủ chốt ở xã, dân công phục vụ các chiến trường quan trọng và nhân dân (Nghị định số 111B/CP) ngày 20- 7-1968; Chế đô đối với cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không (Nghị định số 111/CP ngày 28-6-1973).
Đồng thời Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể hiện trách nhiệm đối với người có công như: Văn bản quy định những ngành nghề dành để sắp xếp thương binh vào làm việc, các cơ quan xí nghiệp phải nhận thương binh theo tỷ lệ 5% biên chế; quy định chế độ ưu đãi trong giáo dục - đào tạo, trong y tế, được miễn, giảm giá vé tàu xe… Sự quan tâm của Đảng, Chính phủ đối với người có công trong giai đoạn này đã góp phần to lớn, ổn định hậu phương, động viên cán bộ chiến sĩ và nhân dân hăng hái trong chiến đấu, hết lòng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985, chính sách ưu đãi người có công có những thay đổi bổ sung cho phù hợp tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước sau khi Tổ quốc thống nhất. Chính sách ưu đãi người có công tập trung vào các nhiệm vụ như giải quyết các tồn đọng sau chiến tranh, thống nhất các chế độ ưu đãi trong cả nước. Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã ban hành 523 văn bản pháp luật ưu đãi người có công, điển hình như: Chỉ thị 223/CT-TƯ ngày 8-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định yêu cầu nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sĩ sau chiến tranh.
Ban Đại diện Trung ương Đảng ở miền Nam có Chỉ thị số 15/CT-76 về việc tăng cuờng công tác thương binh xã hội ở miền Nam, tập trung vào công tác xác nhận thương binh, liệt sĩ, cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, tổ chức ổn định cuộc sống của người có công. Thực hiện thống nhất chính sách ưu đãi trong cả nước, Nhà nước đã bổ sung, sửa đổi một số quy định về chế độ đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, về công tác mộ liệt sĩ (Nghị định số 45/CP ngày 13-01-1976; Quyết định số 60/CP ngày 05-4-1976); bổ sung quy định ưu đãi người có công giúp đỡ cách mạng (Quyết định số 208/CP ngày 20- 7-1977) và bệnh binh (Quyết định số 78/CP ngày 13-4-1978) là đối tượng người có công với cách mạng. Bổ sung đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, bệnh 11 binh, liệt sĩ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế (Quyết định số 301/CP ngày 20-9-1980). Có thể khẳng định trong giai đoạn 1975- 1985, trong điều kiện đất nước vừa có hòa bình lại phải tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (1978) và biên giới phía Bắc (1979), song Nhà nước đã ban hành, bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản pháp luật ưu đãi đối với người có công, khắc phục được một số bất hợp lý, hình thành một số văn bản pháp quy có hiệu lực thực hiện thống nhất trong cả nước, giải quyết một khối lượng lớn công việc do hậu quả chiến tranh để lại.