Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về bảo vệ quyển con người thông qua hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân. Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyển con người thông qua hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông. Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo vệ quyển con người thông qua hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân CHUONG I CƠ SỞ LY LUẬN VA PHAP LÝ VE BAO VE QUYEN CON NGƯỜI THONG QUA HOAT DONG CUA VIEN KIEM SAT NHAN DAN 1. Khái niệm về bảo vệ quyền con người 1.
Khái niệm quyền con người và bảo vệ quyén con người. Khái niệm quyén con người Về nguồn gốc quyển con người có hai trường phái cơ ban đưa ra hai quan điểm trái ngược nhau. Cac học thuyết về quyên tự nhiên nhân mạnh rằng quyển con người 1a những quyển được sinh ra tự nhiên va mọi người đều được hưởng, đơn gián vi họ 1a thành viên của cộng đồng nhân loại. Những quyển này không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, hay quyết định của bat kỳ tô chức nao.
Trong khi đó, học thuyết về quyển pháp ly cho rằng các quyền con người phải được xác định và pháp điển hóa bởi các nha nước hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa. Cả hai quan điểm này đã được nhiều học giả nồi tiếng như Thomas Hobbes, John Locke, va Thomas Paine tiép tục phat trién. Trong bối cảnh lich sử, chủ nghĩa Mac-Lé nin có ý kiến cho rằng quyển con người là sự kết hợp của quyền tự nhiên và quyên xã hội, được điều chỉnh bằng pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Dù quan điểm này hay quan điểm khác thì quyên con người được hiểu là những nhu cau và lợi ích tự nhiên của chính con người, được ghi nhận va bảo vệ trong hệ thống pháp luật quốc tế nói chung và quốc gia nói riêng.
Bảo vệ quyền con người là trách nhiệm của nha nước thông qua việc thực hiện các quy định pháp luật. Do đó, việc bảo vệ quyển pháp lý liên quan đến quyền con người 1a việc đảm báo một hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến quyển và trách nhiệm của công dân, và các biện pháp bảo đảm thực hiện các quy định đó trong hệ thống pháp luật và cơ chế đám bảo rằng các quy định và biện pháp đó được thực hiện trong thực tế. Nội dung bảo vệ quyền con người. Theo nhận thức chung của cộng đồng Quốc tế, các quốc gia có nghĩa vụ về quyển con người cu thể như sau: Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng: nghĩa vụ này yêu câu các quốc gia không được tự ý tước đoạt, hạn chế hoặc can thiệp, bất ké trực tiếp hay gián tiếp, Vào quyên con người của mọi người.
Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ: nghĩa vụ này yêu cầu các nhà nước phải ngăn chặn bat kỳ hành vi vi phạm quyển con người từ các bên thứ ba. Thứ ba, nghĩa vụ thực hiện: được hiểu là việc các nha nước phải áp dụng các biện pháp dé trợ giúp, bảo vệ công dân trong việc thực hiện các quyên con người. Con người cùng quyên, nghĩa vụ là những thuộc tính không thé tách rời với nó và được xem là tam gương phản chiếu trong hệ thống pháp luật, giúp xác định và bảo vệ sự bình đẳng giữa mọi người trong xã hội và sự độc lập tương đối của mỗi người với cộng đồng và nhà nước thông qua việc hệ thông hóa các quyển tự do của mỗi cá nhân. Có thê thấy, pháp luật có vai trò quan trọng và liên quan mật thiết trong việc bảo vệ các quyển con người.
Mặc dù quyền con người là tự nhiên vốn có, nhưng dé nó thực sự được đúng ban chất thì phải kê đến vai trò của pháp luật, chỉ có thông qua các cơ chế của pháp luật thì quyển con người mới được hoàn thiện và bảo vệ một cách tối ưu nhất. Pháp luật ghi nhận va bảo vệ quyền con người thông qua việc thiết lập các quy định dé ngăn chặn và chống lại bat kỳ hành vi vi phạm nào. Qua các biện pháp giáo dục va sự cưỡng chế từ xã hội, quyển con người được công nhận và bảo vệ. Nhà nước thực hiện các quy định bat buộc dé đảm bảo tuân thủ các quy định này, và mọi vi phạm đều phải chịu trách nhiệm theo quy Để bảo vệ quyển con người một cách đây đủ, toản điện nhất cần phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như pháp luật, kinh tế, chính trị.
và trên hết đó là vị trí, vai trò của pháp luật nên cần thé chế hoá quyển con người thành các quy định pháp luật cụ thể và phải có cơ chế bảo đảm cho các quy định đó được thực hiện trong thực tế. Có thé hiểu bao vệ quyền con người chính là việc Nhà nước thông qua pháp luật dam bao va bảo vệ các quyền cơ ban của con người thông qua việc và thi hành các quy định pháp lý, bao gồm cả việc ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm các quyên đó. Cơ chế bảo vệ quyên con người. Bao vệ quyển con người tại Việt Nam là vấn dé được quan tâm hang đầu và được Đảng, Nhà nước quan tâm, phát triển và hoàn thiện hơn về các quy định của pháp luật để ngày càng phát huy hơn nữa việc bảo vệ quyển con người.
Một trong số đó là nội dung trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII có nội dung: “Tiếp tục đỗi mới, nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, tập trung xây dựng, hoàn thiện thê chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyển con người, quyền công dân”. Điều này cho thấy việc dé cao giá trị quyển con người và việc Nhà nước phải tao ra các cơ chế để có thé bảo vệ quyển con người bằng hành lang pháp lý cụ thé, thiết thực thì lúc đó quyển con người mới đạt được mức độ bảo vệ hiệu quả và tối đa nhất. Lan đầu tiên, quyển con người được quy định trong Hiến pháp năm 2013, với việc dành riêng chương II bao gồm 35 diéu nêu về quyển con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều nay phan anh triét ly lap 1 Dang Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.
Chính trị quốc gia Sự thật, H. 175 hiến phát triển, phù hợp với xu thé thời đại và nâng cao nhận thức vé tim quan trọng của quyên con người, quyền công dan. Hiện nay, Việt Nam đã có một hệ thống pháp luật ghi nhận và coi trọng quyên con người trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng điền hình nhất đó là Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có quy định nhân đạo như giảm hình phạt tử hình, tang hình phạt không tước bo quyền tự do. Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình su và các đạo luật khác cũng lấy quyển con người làm nền tảng.
Tuy nhiên, có một số quy định về quyền con người hiện nay vẫn chưa được rõ rang, thống nhất và đồng bộ, có thê kê đến như quyền im lặng, quyền sống. Có thé thấy, các quy định về quyền con người vẫn chưa thật sự chặt chẽ và còn nhiều van dé phải đặt ra trong thời gian tới dé tiếp tục hoàn thiện cũng như đảm bảo tối đa quyển con người trong hệ thông pháp luật. Cơ cầu, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bảo vệ quyền con người 1. Cơ cấu tổ chức Điều 40 Luật tô chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, quy định về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân có 04 cấp gồm: Viện kiểm sát nhân đân tối cao.
Viện kiểm sát nhân đân cấp cao. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh). Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phó thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện). Bên cạnh đó, Viện kiểm sát nhân đân còn có các Viện kiểm sát quân SỰ, gồm: Viện kiểm sát quân sự các cấp.
Khoản 2 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do 10 Luật định”. Quy định này đồng nghĩa với việc phát triển tương ứng đến thời điểm hiện tại về hệ thống Toà án sơ thâm, Toà án phúc thâm, đảm bảo nguyên tắc độc lập cũng như phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp theo định hướng đã được cụ thê hóa tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Kết Luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Dé án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan Điểu tra theo Nghị quyết 49. Chức năng, nhiệm vụ, quyên hạn của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc bảo vệ quyền con người Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyển công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Đây là chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013.
Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyển công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyển và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gop phần bao đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Khoản 2 Điều 2 Luật TCVKSND 2014 quy định VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bao vệ quyển con người, quyển công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyển và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân, góp phần bảo dam pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. - Chức năng thực hành quyên công tổ của Viện kiểm sát nhân dân Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định rõ ràng thực hành quyên công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự dé thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực 11 hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.