Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bảo đảm quyền con người là một trong những nội dung trọng tâm và là mục tiêu cốt lõi của tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định các cơ quan tư pháp phải thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo đảm công lý và quyền con người. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, XII và XIII, với định hướng hoàn thiện nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Ở bình diện quốc tế, Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) cũng như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (UDHR) đều ghi nhận nguyên tắc bình đẳng của mọi cá nhân trước tòa án và pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động lập pháp tại Việt Nam trải qua các khâu từ hoạch định chính sách, lập đề nghị, soạn thảo đến thẩm định, thẩm tra và thông qua cho thấy mức độ bảo đảm quyền con người chưa đồng đều giữa các giai đoạn. Nhiều chủ thể tham gia quy trình lập pháp chưa thực sự quan tâm đến cơ chế bảo đảm quyền con người; công tác dự báo và đánh giá tác động chính sách (ĐGTDCS) đối với quyền con người ở giai đoạn lập đề nghị còn hạn chế; việc bảo vệ quyền con người chưa được xác lập thành một nội dung độc lập, căn bản trong hoạt động thẩm định và thẩm tra dự án luật.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền con người trong hoạt động xây dựng pháp luật, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong quy trình lập pháp.
Để hiện thực hóa mục đích trên, đề tài xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Kế thừa và làm sâu sắc hơn khái niệm, nội dung quyền con người.
- Chỉ ra các yếu tố bảo đảm quyền con người trong xây dựng luật.
- Nghiên cứu nội dung của quy trình xây dựng luật với việc bảo đảm quyền con người.
- Phân tích tầm quan trọng của việc phải bảo vệ quyền con người trong quy trình xây dựng luật.
- Đánh giá thực trạng quy trình xây dựng luật bảo đảm quyền con người.
- Đánh giá nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền con người trong xây dựng luật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền con người trong xây dựng luật.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu hoạt động bảo đảm quyền con người xuyên suốt quy trình xây dựng văn bản luật.
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu từ thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực pháp lý đến năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước, pháp luật và quyền con người (Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011; Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/07/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình mới; Văn kiện Đại hội XII, XIII). Về mặt pháp lý, đề tài vận dụng các chuẩn mực quốc tế và văn bản lập quy quốc gia:
- Các điều ước quốc tế: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (ICESCR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em.
- Văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Chương II với các Điều 14, 15, 16, 24, 26), các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Nghị định số 24/2009/NĐ-CP, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Việc làm năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016, Luật Phòng, chống HIV/AIDS.
Về phương diện lý thuyết quyền con người, tác giả tiếp cận định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Quyền con người (UNHCHR) và từ điển luật học của P.H. Collin, xác định 4 đặc tính cơ bản của quyền con người: tính phổ biến (universal), tính không thể tước bỏ (inalienable), tính không thể phân chia (indivisible), tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent). Về phương thức bảo đảm, tác giả phân chia thành 3 trụ cột: bảo đảm về chính trị, bảo đảm về pháp lý và bảo đảm về kinh tế.
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm lý luận, cấu trúc các giai đoạn xây dựng luật, phân tích số liệu thống kê thu thập từ các báo cáo chính thức của cơ quan nhà nước.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Kết hợp, đối chiếu giữa lý luận bảo đảm quyền con người với thực tiễn quy trình xây dựng luật tại Việt Nam để rút ra thành tựu, bất cập và nguyên nhân.
- Phương pháp so sánh: So sánh quy định quyền con người qua các bản Hiến pháp của Việt Nam; so sánh quy định pháp luật trong nước với các điều ước quốc tế; làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa hoạt động thẩm định và thẩm tra dự án luật.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn kiện của Đảng, các tài liệu và báo cáo chính thức: Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 11/01/2021 của Bộ Tư pháp về công tác tư pháp giai đoạn 2016–2020, Tài liệu Hội nghị toàn quốc triển khai công tác tư pháp năm 2023 của Bộ Tư pháp, Báo cáo số 79/BC-VKSTC ngày 22/05/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cùng các kỷ yếu hội thảo và đề tài nghiên cứu cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Những vấn đề lí luận về bảo đảm quyền con người trong xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền con người và quy trình lập pháp. Tác giả phân tích khái niệm quyền con người dưới góc độ là các bảo đảm pháp lý toàn cầu bảo vệ phẩm giá, tự do cơ bản của cá nhân trước hành động hoặc sự bỏ mặc của các chủ thể quyền lực. Nội dung quyền con người được phân định rõ thành hai nhóm chính theo các công ước quốc tế: nhóm quyền dân sự, chính trị (quyền sống, quyền tự do cá nhân, quyền xét xử công bằng, quyền tự do ngôn luận, hội họp, tham gia quản lý nhà nước...) và nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (quyền làm việc, quyền nghỉ ngơi, tiêu chuẩn sống thích đáng, học tập, tham gia đời sống văn hóa).
Tác giả đi sâu phân tích bước tiến trong kỹ thuật lập hiến của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992: đổi tên từ "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" thành "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", đưa chương này từ vị trí Chương V lên vị trí trang trọng tại Chương II; mở rộng dung lượng từ 34 điều (Điều 49 đến 82 của Hiến pháp 1992) lên 36 điều (Điều 14 đến 40 của Hiến pháp 2013); ghi nhận 5 điều mới (Điều 19, 34, 41, 42, 43), sửa đổi 28 điều và giữ nguyên 3 điều (Điều 44, 46, 49). Đặc biệt, khoản 2 Điều 14 ghi nhận nguyên tắc hiến định: quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.
Về mặt quy trình, tác giả phân tích mối quan hệ giữa bảo đảm pháp lý quyền con người với 4 giai đoạn lập pháp theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015:
- Giai đoạn lập đề nghị xây dựng luật: Căn cứ vào cơ sở chính trị, thực tiễn và pháp lý để xác định sự cần thiết ban hành chính sách; thực hiện đánh giá tác động chính sách, lấy ý kiến, thẩm định tại Bộ Tư pháp và thẩm tra tại Ủy ban Pháp luật của Quốc hội.
- Giai đoạn soạn thảo luật: Thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập với thành phần chuyên gia pháp lý; xây dựng đề cương sơ lược, đề cương chi tiết; soạn thảo quy phạm và bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi nhằm chuyển tải đầy đủ quyền con người.
- Giai đoạn thẩm định, thẩm tra dự án luật: Thực hiện chức năng kiểm tra trước về mặt nội dung, hình thức và kỹ thuật lập pháp; đánh giá mức độ tương thích của dự thảo với các quyền hiến định và điều ước quốc tế.
- Giai đoạn trình, xem xét, thông qua, ban hành: Quốc hội thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý, biểu quyết thông qua và thực hiện công bố công khai văn bản luật, tạo tiền đề chuyển tiếp sang khâu thực thi pháp luật.
Chương 2. Thực trạng bảo đảm quyền con người trong xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn bảo đảm quyền con người qua từng giai đoạn lập pháp kể từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực, chỉ ra các kết quả đạt được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân:
Về thành tựu:
- Trong giai đoạn lập đề nghị: Hoạt động đánh giá tác động chính sách (ĐGTDCS) được luật hóa; công tác thẩm định của cơ quan tư pháp đạt quy mô lớn. Năm 2020, toàn ngành tư pháp thẩm định 5.970 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (Bộ Tư pháp thẩm định 258 dự thảo). Năm 2022, toàn ngành thẩm định 7.511 dự thảo (Sở Tư pháp thẩm định 4.675 văn bản, Phòng Tư pháp thẩm định 2.836 văn bản). Thực hiện nghiêm quy định thời hạn đăng tải lấy ý kiến ít nhất 30 ngày đối với đề nghị và 60 ngày đối với dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội, Chính phủ; tuân thủ thủ tục lấy ý kiến bắt buộc bằng văn bản của 4 bộ: Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp theo khoản 2 Điều 36 Luật năm 2015.
- Trong giai đoạn soạn thảo: Nhiều đạo luật đã kịp thời chuyển tải chính sách bảo vệ nhóm yếu thế. Điển hình là việc xây dựng Chương XXVIII trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi, đáp ứng các cam kết của Việt Nam tại Công ước về quyền trẻ em.
- Trong giai đoạn thẩm định, thẩm tra: Cơ quan chức năng đã kiểm soát nhiều dự án luật lớn như Luật Giáo dục, Luật Trẻ em, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Điển hình tại báo cáo thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống HIV/AIDS, cơ quan thẩm định đã đề nghị bổ sung nghĩa vụ của người nhiễm HIV phải thông báo kết quả dương tính cho vợ, chồng hoặc người chuẩn bị kết hôn (khoản 1 Điều 2) nhằm bảo vệ quyền sống và sức khỏe của các thành viên gia đình.
- Trong giai đoạn trình, thông qua, ban hành: Các cơ quan chủ trì (như Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đối với các luật an sinh) đã tổ chức nhiều hội thảo lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động, đăng tải dự thảo công khai, tiếp thu ý kiến thẩm định để hoàn thiện dự án luật trình Quốc hội.
Về hạn chế và bất cập:
- Ở giai đoạn lập đề nghị: ĐGTDCS đối với quyền con người còn mang tính hình thức. Tác giả dẫn chứng hàng loạt dự án luật trình Quốc hội nhưng không có Báo cáo ĐGTDCS: Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Luật Tiếp công dân, Luật Sửa đổi các luật về thuế, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Điều ước quốc tế. Hình thức các báo cáo ĐGTDCS không thống nhất, nhiều báo cáo không có mục lục như Báo cáo ĐGTDCS của Luật Đầu tư công sửa đổi (2018), Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (2017), Luật Giáo dục sửa đổi (2018), Luật Kiến trúc (2018). Quy định tại Luật năm 2015 và Nghị định số 24/2009/NĐ-CP, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP còn chung chung, thiếu quy trình ĐGTDCS chuyên biệt về quyền con người. Việc lấy ý kiến đối tượng đặc thù như trẻ em chưa được thực hiện trực tiếp mà phải qua cơ quan đại diện. Báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân ít khi được đăng tải công khai trên cổng thông tin điện tử.
- Ở giai đoạn soạn thảo: Tiến độ chuẩn bị kéo dài, kỹ thuật lập pháp hạn chế, có luật chưa có hiệu lực đã phải sửa đổi; việc thay đổi cơ quan chủ trì soạn thảo gây thiếu nhất quán; một số đạo luật chưa nội luật hóa đầy đủ điều ước quốc tế. Ví dụ: quy định bồi thường cho nạn nhân bị mua bán người theo Điều 6 Công ước CEDAW trên thực tế chỉ đạt mức 10 tháng lương cơ bản và rất khó thi hành khi người phạm tội chấp hành án phạt tù; Luật Việc làm năm 2013 thiếu các điều khoản nhạy cảm giới, không có chính sách ưu tiên đào tạo nghề và giải quyết việc làm riêng biệt cho phụ nữ.
- Ở giai đoạn thẩm định, thẩm tra: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chưa thiết kế bảo đảm quyền con người thành một tiêu chí độc lập, riêng biệt trong thủ tục thẩm định, thẩm tra, mà vẫn lồng ghép thụ động vào việc xem xét tính hợp hiến, hợp pháp chung.
- Ở giai đoạn xem xét, thông qua: Khối lượng công việc của Chính phủ trong các phiên họp thường kỳ quá lớn (hàng trăm nghị định, hàng chục nghị quyết và dự án luật), dẫn đến tình trạng các thành viên Chính phủ chủ yếu quan tâm đến dự án của bộ, ngành mình phụ trách, thiếu thời gian nghiên cứu đối chiếu tổng thể các dự án luật khác.
Nguyên nhân của hạn chế:
Tác giả xác định 6 nguyên nhân: (1) Quy trình lập pháp thiên về yêu cầu quản lý của Nhà nước hơn là tiếp cận dựa trên quyền, còn tâm lý e ngại vấn đề nhân quyền; (2) Nhận thức của cộng đồng và cán bộ công chức về quyền con người chưa đầy đủ, công tác tuyên truyền giáo dục còn khiêm tốn; (3) Tổ chức xây dựng luật thiếu đầu tư tương xứng về thời gian và kinh phí, còn tư duy cục bộ bộ/ngành (dẫn chứng: Luật Trẻ em năm 2016 triển khai chậm ở địa phương, kinh phí phụ thuộc trung ương, can thiệp hỗ trợ nạn nhân còn mang tính hình thức, từ thiện); (4) Trình độ, kỹ năng lập pháp và ứng dụng công nghệ của cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu; (5) Sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định và các tổ chức xã hội thiếu đồng bộ, chậm trễ; (6) Trở ngại khách quan từ điều kiện kinh tế đang phát triển và năng lực tiếp thu kinh nghiệm quốc tế chưa phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Chương 3. Giải pháp bảo đảm quyền con người trong xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp khắc phục các bất cập nêu trên qua 3 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
- Xác định thứ tự ưu tiên các dự án đưa vào Chương trình xây dựng luật theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật năm 2015; căn cứ vào tính bức xúc, độ chín muồi và điều kiện khả thi; kiên quyết không đưa vào chương trình những dự án chưa chuẩn bị kỹ lưỡng hoặc chưa rõ đối tượng, phạm vi điều chỉnh.
- Sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: Bổ sung quy định bắt buộc phải có nội dung đánh giá tác động chính sách đối với quyền con người trong hồ sơ đề nghị xây dựng luật; thiết lập nội dung bảo đảm quyền con người thành một tiêu chuẩn thẩm định, thẩm tra độc lập, bắt buộc; bắt buộc cơ quan chủ trì soạn thảo phải đăng tải lại dự thảo nếu có chỉnh lý khác biệt với bản lấy ý kiến trước đó; tăng cường trách nhiệm giải trình bằng việc quy định bắt buộc tổng hợp, giải trình và đăng tải công khai báo cáo tiếp thu ý kiến góp ý trên cổng thông tin điện tử (sửa đổi các khoản 1 Điều 36, khoản 3 Điều 57, khoản 3 Điều 86).
- Giải pháp về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực:
- Nâng cao năng lực chuyên môn về quyền con người cho cán bộ lập pháp ở cấp trung ương và bổ sung đội ngũ cán bộ chuyên trách tại các địa phương.
- Chuẩn hóa tiêu chuẩn năng lực, bảo đảm người tham gia soạn thảo, thẩm định, thẩm tra nắm vững kiến thức khoa học pháp lý về quyền con người và kỹ thuật lập pháp.
- Nâng cao năng lực giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong quy trình lập pháp.
- Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đề cao trách nhiệm cá nhân của các chủ thể tham gia quy trình xây dựng văn bản.
- Giải pháp về sự phối hợp giữa các cơ quan:
- Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và kịp thời giữa cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định (Bộ Tư pháp), cơ quan thẩm tra (các Ủy ban của Quốc hội) và các tổ chức xã hội trong suốt quy trình lập pháp nhằm hạn chế tình trạng cục bộ ngành và bảo đảm dòng thông tin thông suốt.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực chứng phản ánh công tác lập pháp và thẩm định văn bản tại Việt Nam:
| Chỉ số / Tiêu chí |
Năm 2020 |
Năm 2022 |
Nguồn dữ liệu |
| Tổng số dự thảo VBQPPL toàn ngành tư pháp thẩm định |
5.970 văn bản |
7.511 văn bản |
Báo cáo số 01/BC-BTP (2021) & Tài liệu Hội nghị ngành Tư pháp (2023) |
| Số lượng dự thảo do Bộ Tư pháp thẩm định |
258 văn bản |
(Không phân rã riêng trong báo cáo) |
Báo cáo số 01/BC-BTP (2021) |
| Số lượng dự thảo do Sở Tư pháp thẩm định |
(Không phân rã riêng trong báo cáo) |
4.675 văn bản |
Tài liệu Hội nghị ngành Tư pháp (2023) |
| Số lượng dự thảo do Phòng Tư pháp thẩm định |
(Không phân rã riêng trong báo cáo) |
2.836 văn bản |
Tài liệu Hội nghị ngành Tư pháp (2023) |
Bên cạnh số liệu về thẩm định văn bản, khóa luận đã hệ thống hóa sự phát triển về kỹ thuật lập hiến đối với chương về quyền con người qua các thời kỳ:
| Tiêu chí so sánh |
Hiến pháp năm 1992 |
Hiến pháp năm 2013 |
Mức độ thay đổi |
| Tên gọi Chương |
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân |
Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân |
Bổ sung cụm từ "Quyền con người" |
| Vị trí của Chương |
Chương V |
Chương II |
Đưa lên vị trí trang trọng ngay sau Chương I (Chế độ chính trị) |
| Số lượng điều khoản |
34 điều (Điều 49 đến Điều 82) |
36 điều (Điều 14 đến Điều 40) |
Tăng 2 điều (tăng 18 điều so với HP 1946, 15 điều so với HP 1959, 7 điều so với HP 1980) |
| Cơ cấu điều khoản |
Quy định quyền gắn liền với công dân |
5 điều mới (19, 34, 41, 42, 43); sửa đổi 28 điều; giữ nguyên 3 điều (44, 46, 49) |
Phân biệt rõ quyền con người ("mọi người") và quyền công dân ("công dân") |
Đóng góp của nghiên cứu mà tác giả tự nêu:
- Khóa luận làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa quy trình lập pháp và bảo đảm quyền con người, chỉ ra tính chất bắt buộc của việc tiếp cận lập pháp dựa trên quyền thay vì thuần túy quản lý nhà nước.
- Công trình đã chỉ ra những khoảng trống pháp lý cụ thể: sự thiếu vắng tiêu chí quyền con người độc lập trong hoạt động thẩm định, thẩm tra của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; việc buông lỏng yêu cầu Báo cáo ĐGTDCS ở nhiều dự án luật quan trọng.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng: sửa đổi các điều khoản cụ thể trong Luật năm 2015 (khoản 2 Điều 32; Điều 36; khoản 3 Điều 57; khoản 3 Điều 86) nhằm buộc các chủ thể lập pháp phải giải trình tiếp thu ý kiến và lượng hóa tác động đến quyền con người.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Về phạm vi đối tượng: Đề tài tập trung chủ yếu vào quy trình xây dựng các đạo luật do Quốc hội ban hành, chưa đi sâu khảo sát quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật (như nghị định của Chính phủ, thông tư của các bộ và văn bản của chính quyền địa phương) - nơi trực tiếp hiện thực hóa các quy định của luật đối với quyền con người.
- Về dữ liệu khảo sát: Khóa luận chủ yếu trích dẫn và phân tích các trường hợp điển hình liên quan đến quyền của phụ nữ, quyền trẻ em và người yếu thế (trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Việc làm, Luật Phòng, chống HIV/AIDS, Luật Trẻ em), chưa bao quát toàn diện các lĩnh vực quyền dân sự, chính trị khác.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo cứu sang quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước.
- Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí khung về Đánh giá tác động quyền con người (HRIA) áp dụng đồng bộ cho các cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm định tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, đặc biệt là các bộ môn Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Luật Quốc tế khi nghiên cứu về kỹ thuật lập pháp và bảo đảm quyền con người.
- Các chuyên viên pháp chế, cán bộ nghiên cứu tại các bộ, ngành, cơ quan chủ trì soạn thảo luật và các cơ quan làm công tác thẩm định (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp) hoặc cơ quan thẩm tra (các Ủy ban của Quốc hội).
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất bao gồm: phân tích các điểm mới về kỹ thuật lập hiến tại Chương II Hiến pháp năm 2013 (Chương 1); các dữ liệu thực chứng chỉ ra danh sách các dự án luật thiếu Báo cáo ĐGTDCS hoặc thiếu quy chuẩn hình thức (Chương 2); các kiến nghị sửa đổi bổ sung điều khoản cụ thể của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Hiến pháp năm 2013 đã có những thay đổi mang tính kỹ thuật lập hiến và nhận thức luận nào đối với chương về quyền con người so với Hiến pháp năm 1992?
Hiến pháp năm 2013 đã đổi tên Chương từ "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" thành "Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân", đồng thời chuyển vị trí từ Chương V lên Chương II (ngay sau Chương I về Chế độ chính trị). Về số lượng, chương tăng từ 34 điều (Hiến pháp 1992) lên 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 40), trong đó bổ sung 5 điều hoàn toàn mới (Điều 19, 34, 41, 42, 43), sửa đổi 28 điều và giữ nguyên 3 điều (Điều 44, 46, 49). Về mặt nhận thức luận, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên tách bạch rõ ràng giữa "quyền con người" (dành cho mọi cá nhân) và "quyền công dân", khắc phục việc đồng nhất hai khái niệm này trước đây, đồng thời bổ sung nguyên tắc hiến định về điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14.
2. Khóa luận nêu ra những dự án luật cụ thể nào vi phạm yêu cầu về lập Báo cáo đánh giá tác động chính sách (ĐGTDCS)?
Khóa luận dẫn chứng nhiều dự án luật có tầm ảnh hưởng lớn nhưng trong hồ sơ trình Quốc hội không có Báo cáo ĐGTDCS, bao gồm: Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Luật Tiếp công dân, Luật Sửa đổi các luật về thuế, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Điều ước quốc tế. Ngoài ra, một số Báo cáo ĐGTDCS tồn tại bất cập về hình thức như thiếu mục lục (Luật Đầu tư công sửa đổi 2018, Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt 2017, Luật Giáo dục sửa đổi 2018, Luật Kiến trúc 2018).
3. Khối lượng công tác thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của ngành tư pháp được tác giả dẫn chứng qua các con số nào?
Theo các báo cáo được khóa luận trích dẫn, công tác thẩm định của cơ quan tư pháp đạt khối lượng rất lớn:
- Năm 2020: Toàn ngành tư pháp đã thẩm định 5.970 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, riêng Bộ Tư pháp thẩm định 258 dự thảo.
- Năm 2022: Toàn ngành tư pháp thẩm định tổng cộng 7.511 dự thảo, trong đó các Sở Tư pháp thẩm định 4.675 văn bản và các Phòng Tư pháp thẩm định 2.836 văn bản.
4. Ví dụ nào trong hoạt động thẩm định dự án luật được tác giả phân tích nhằm chứng minh sự bảo đảm quyền con người trên thực tế?
Tác giả dẫn chứng báo cáo thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống HIV/AIDS. Trong đó, cơ quan thẩm định đã đề nghị bổ sung nghĩa vụ tại khoản 1 Điều 2: người nhiễm HIV phải có nghĩa vụ "thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính của mình cho vợ, chồng hoặc cho người chuẩn bị kết hôn với mình hoặc người có quan hệ tình dục với mình và thành viên gia đình biết". Đây được xem là yêu cầu trực tiếp bảo đảm quyền sống, quyền được bảo vệ sức khỏe của các thành viên gia đình và cộng đồng trước nguy cơ lây nhiễm.
5. Những bất cập cụ thể nào liên quan đến quyền của phụ nữ và trẻ em được chỉ ra trong khâu soạn thảo luật?
Trong giai đoạn soạn thảo, việc nội luật hóa cam kết quốc tế còn hạn chế: đối với quyền phụ nữ theo Điều 6 Công ước CEDAW, mức bồi thường cho nạn nhân bị mua bán người theo quy định hiện hành chỉ 10 tháng lương cơ bản là quá thấp và khó thi hành khi kẻ phạm tội chấp hành án tù; Luật Việc làm năm 2013 thiếu các quy định nhạy cảm giới và thiếu chính sách ưu tiên học nghề, tiếp cận việc làm riêng cho phụ nữ. Đối với trẻ em, quy trình soạn thảo luật chưa có cơ chế cho trẻ em trực tiếp đóng góp ý kiến vào các nội dung điều chỉnh liên quan mà phải gián tiếp thông qua cơ quan nhà nước hoặc tổ chức đại diện.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Khánh Linh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, các chuẩn mực quốc tế và quy định pháp luật về bảo đảm quyền con người trong 4 giai đoạn của quy trình lập pháp tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có hiệu lực, tác giả đã làm rõ những thành tựu của công tác thẩm định cũng như chỉ ra các bất cập lớn trong hoạt động đánh giá tác động chính sách và lồng ghép quyền con người. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa nguồn nhân lực và tăng cường cơ chế phối hợp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.