Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay. Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam hiện nay.
11 z Chƣơng 1 NH NG VẤN Đ L LUẬN CƠ CH V ẢO ĐẢM QUY N TI P CẬN CÔNG L Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm công lý và quyền tiếp cận công lý 1. Khái niệm công lý Ngay từ thời kỳ cổ đại, cả ở phƣơng Đông và phƣơng Tây, công lý (justice) thƣờng đƣợc đồng nghĩa với khát vọng về tự do và công bằng. Ứớc nguyện về công lý đƣợc thể hiện qua nhiều câu chuyện thần thoại và những bộ sách kinh điển nổi tiếng để lại trong lịch sử.
Ví dụ, thần thoại Hy Lạp ra đời khoảng từ 2000 - 1100 TCN đã khắc họa hình tƣợng nữ thần công lý Thémix một tay cầm cân, một tay cầm thanh kiếm, mắt bịt một băng vải để chứng tỏ sự vô tƣ, không thiên vị, xử lý nghiêm khắc đối với các hành động gian tà để đem lại sự ổn định và phát triển hài hòa của thế gian. Bộ luật Hammurabi, bộ luật thành văn cổ xƣa nhất của nhân loại ra đời khoảng từ 1792 - 1750 TCN đã nói đến công lý và coi công lý là cơ sở của nền cai trị nhân từ, công bằng nhằm đem lại sự thái bình và hạnh phúc cho ngƣời dân. Công lý cũng đƣợc minh họa trong vở kịch Antigone của Sophocle (496-406 TCN), trong đó nàng Antigone vì tình thƣơng, lẽ phải và đạo lý đã chống lại cƣờng quyền của vua Creon. Nhà triết học Hy lạp Plato (428- 348 TCN) cho rằng, công lý là một khái niệm thể hiện phẩm hạnh và sự hài hoà của con ngƣời với cộng đồng.
Trong khi đó, theo Aristotle (384-322 TCN), công lý cốt ở việc đối xử bình đẳng với những ngƣời ngang nhau và bất bình đẳng với những ngƣời không ngang hàng, tƣơng xứng với sự khác nhau về địa vị của họ. Công lý đƣợc chia thành “công lý cải tạo” - nơi mà toà án sửa chữa lỗi lầm do một bên phạm đối với bên khác và “công lý phân phối” – tức là cách thức, nỗ lực cố gắng để 12 z công bằng với mỗi ngƣời, đúng theo những gì mà ngƣời đó xứng đáng. Cicero (144-46 TCN) cho rằng, công lý là một phẩm hạnh quan trọng nhằm giữ xã hội thắt chặt bên nhau, nó cho phép chúng ta theo đuổi những điều tốt đẹp chung vì sự tồn tại của xã hội. Chức năng đầu tiên của công lý là giữ cho mỗi ngƣời khỏi làm những điều ác, có hại cho ngƣời khác [5, tr.
Trong thời trung cổ, công lý cũng thu hút sự chú ý của nhiều nhà tƣ tƣởng.Augustine (354-420) cho rằng công lý cao hơn nhà nƣớc và là vĩnh cửu. Ông coi công lý là điểm tựa chính trị, đạo lý trong mỗi thể chế: Nếu không có công lý, nhà nước chỉ là một băng cướp có tổ chức mà thôi. Trong khi đó, Thomas Aquinas (1225- 1274) cho rằng, công lý cung cấp những tiêu chí quan trọng và cơ bản để đánh giá hiệu lực của các đạo luật thực định. Công lý tự nhiên cao hơn luật pháp, luật pháp không công bằng thì không phải là luật pháp (Unjust laws are not laws).
Luật, theo Thomas Aquinas, là bất kỳ mệnh lệnh nào của lý tính do ngƣời cai quản xã hội đề ra vì hạnh phúc chung. Luật vĩnh cửu là luật của Chúa mà thông qua đó Chúa điều khiển thế giới, không làm cho các luật khác bắt nguồn từ nó trở nên thừa. Luật phải phản ánh nguyên lý của Đạo đức và luật tự nhiên. Loài ngƣời cụ thể hóa các nguyên lý, định đề của luật tự nhiên cần hƣớng đến cái thiện, làm việc thiện, tránh cái ác, bị lƣơng tâm hạn chế, và chống bất công [29, tr.
Trong thời cận hiện đại, những lý luận về tự do và công lý tiếp tục đƣợc thảo luận một cách sôi nổi và có hệ thống bởi các học giả nhƣ Montesquieu (1689-1755), Voltaire (1694-1778), Jean Jacques Rousseau (1712-1778), Thomas Jefferson (1743-1826). Tuy nhiên, phải đến thời hiện đại, nhiều vấn đề của công lý mới đƣợc làm sáng tỏ. Ngƣời có nhiều công lao trong việc nghiên cứu về công lý trong thời hiện đại là J. Công trình nghiên cứu đầu tiên của ông đƣợc xuất bản năm 1971 đã chỉ ra rằng, khái niệm về tự do và bình đẳng có thể đƣợc thống nhất lại với nhau trong cái mà 13 z ông gọi là công lý - công bằng.
Rawls gọi lý thuyết của ông là lý thuyết công lý như là sự công bằng. Câu hỏi công lý là gì đƣợc ông định nghĩa ngắn gọn trong mệnh đề “justice as fairness” (công lý là sự công bằng). Công lý nhƣ là sự công bằng là tâm điểm của toàn bộ học thuyết của Rawls. Trƣớc hết, Rawls quan tâm đến mối quan hệ giữa cái đúng - cái thiện và cái công bằng.
Giữa chúng phải có sự sắp xếp theo một thứ tự nhất định: cái đúng (right) trƣớc cái thiện (good), rồi đến cái công lí nhƣ là cái công bằng. Đã là cái công bằng thì phải vừa là cái đúng và vừa phải là cái thiện. Điều ngƣợc lại thì chƣa chắc là công lý. Đó là theo cách lý giải của Rawls.
Có cái đúng chƣa chắc đã là cái thiện và cái thiện chƣa chắc đã là cái đúng. Trong trƣờng hợp này chúng ta không có công bằng, tức là chúng ta không có công lý. Cái thiện trƣớc hết phải là cái đúng. Cũng nhƣ thế, cái công lý phải là cái đúng và phải là cái thiện.
Chúng phải là một. Là một sự hoàn thiện tối cao trong những trật tự khác nhau của nhận thức. Chúng giúp cho mỗi ngƣời nhận thấy một cách chính xác lợi ích riêng của mình trong mọi tình huống, chúng bổ sung cho nhau, tôn vinh nhau và là điều kiện không thể thiếu đƣợc của cuộc sống của con ngƣời. Rawls cho rằng, công lý là mẫu mực của cuộc sống, là mục đích của cuộc sống, là cái tiên thiên của luật pháp, nó giúp cho luật pháp gìn giữ sự thanh bình của cuộc sống, đảm bảo ổn định và phát triển kinh tế.
Công lý nhƣ là cái thế thăng bằng của xã hội. Bản thân công lý, chính là nhƣ ở giữa, nếu thái quá sẽ là bất công, thiếu sót sẽ làm tổn hại xã hội. Công lý còn là bình đẳng, có khoảng cách nhƣ nhau giữa lợi ích và sự mất mát hay thua thiệt trong các quan hệ xã hội. Cho nên công lý nhƣ là sự công bằng.
Đây cũng là lý lẽ làm căn cứ để Rawls bác bỏ lại thuyết vị lợi và vƣợt qua các lý thuyết kinh tế học đƣơng thời để kéo con ngƣời về với một đòi hỏi chính đáng và cao cả là cuộc sống của con ngƣời phải có công lý nhƣ là công bằng và dứt khoát phải có sự phân biệt giữa cái đúng, cái thiện và cái công bằng, để có 14 z những lựa chọn hợp lý nhất [7, tr. Quan điểm của Rawls khá tƣơng đồng với khái niệm về công lý trong cuốn Từ điển Luật Black, trong đó “công lý” đã đƣợc định nghĩa là “sự công bằng và hợp lý, với ba ý niệm cơ bản: sự nhấn mạnh về tầm quan trọng cá nhân, yêu cầu các cá nhân phải được đối xử một cách phù hợp, không thiên vị và bình đẳng” [34, tr. Ở Việt Nam, khái niệm công lý đã đƣợc nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu gần đây của một số tác giả nhƣ: Nguyễn Đăng Dung (Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền); Nguyễn Văn Hiển (Bàn về hệ thống pháp luật), Viện khoa học pháp lý Bộ Tƣ pháp (Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở “Mối quan hệ giữa pháp luật và công lý – Lý luận và thực tiễn”), Vũ Công Giao (Tiếp cận công lý và các nguyên lý của nhà nước pháp quyền) …Tuy nhiên, ngƣời đƣa ra định nghĩa cụ thể nhất về công lý có lẽ là tác giả Nguyễn Xuân Tùng, trong đó nêu rằng: Công lý là một hiện tƣợng xã hội mang tính giai cấp và lịch sử, là phẩm hạnh xã hội mang tính chính trị sâu sắc, là giá trị giúp mỗi hành viên xã hội không làm phƣơng hại đến ngƣời khác và là căn cứ để tòa án giải quyết các xung đột, tranh chấp, vi phạm trên cơ sở đạo lý, lẽ phải, lẽ công bằng, qua đó, tạo dựng sự đồng thuận, ổn định và trật tự xã hội [27]. Bên cạnh đó, khái niệm công lý cũng đã xuất hiện trong một số từ điển của Việt Nam, ví dụ nhƣ: Công lý là lẽ phải, lẽ công bằng, phù hợp với pháp luật đƣơng thời, không thiên lệch, không tƣ vị.
Chế độ nào cũng coi tòa án là tƣợng trƣng cho công lý, là cơ quan công lý của chế độ ấy[31]. Hay công lý là: Sự công bằng hay chính nghĩa, sự đúng đắn, lẽ phải. Thƣờng đƣợc dùng trong đời sống pháp lý và đặc biệt là trong hoạt động tƣ pháp [31]; Công 15 z lý là sự nhận biết đúng đắn và tôn trọng theo lẽ phải các quyền lợi ích chính đáng của mọi ngƣời [31]. Từ những phân tích ở trên, có thể thấy có rất nhiều định nghĩa về công lý, tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả tán thành và sử dụng định nghĩa của J.
Rawls, trong đó xem công lý như là sự công bằng. Theo tác giả, những lý giải về tính hợp lý của định nghĩa này nhƣ nêu ở mục trên là thuyết phục, và định nghĩa rất ngắn gọn, rõ ràng, có tính khái quát lý luận cao. Nhận định của học viên về quyền tiếp cận công lý Trên phƣơng diện quốc tế, có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền tiếp cận công lý (the right of access to justice, hay còn đƣợc gọi tắt là tiếp cận công lý - access to justice), nhƣng tựu trung có thể quy vào hai cách hiểu chính: - Thứ nhất: Access to justice đƣợc hiểu nhƣ là quyền được xét xử công bằng (the right to a fair trial) mà đƣợc ghi nhận và nhấn mạnh trong luật quốc tế về quyền con ngƣời. Đây là cách hiểu mang tính truyền thống mà ngoại diên của nó không vƣợt quá phạm vi hoạt động tố tụng hình sự, và nội hàm của nó chỉ bao gồm các bảo đảm pháp lý về mặt tố tụng, chẳng hạn nhƣ bình đẳng về tƣ cách trƣớc tòa án, quyền đƣợc xét xử công khai bởi một tòa án không thiên vị, đƣợc lập ra theo đúng pháp luật; quyền đƣợc bào chữa; quyền đƣợc kháng cáo.