phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục từ viết tắt, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm có 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về quyền tiếp cận công lý và pháp luật về quyền tiếp cận công lý. Chƣơng 3: Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam. Chƣơng 4: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam.
8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Công lý và quyền tiếp cận công lý đã đƣợc nhiều tổ chức quốc tế và học giả nƣớc ngoài nghiên cứu từ lâu. Nội dung đƣợc nghiên cứu ở nƣớc ngoài rất rộng, bao gồm các vấn đề lý luận về công lý và quyền tiếp cận công lý, các tiêu chuẩn và cơ chế quốc tế, khung khổ pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật về đảm bảo quyền tiếp cận công lý ở cấp độ quốc gia. Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về công lý Công lý là một khái niệm có lịch sử lâu đời, đƣợc đề cập trong rất nhiều công trình nghiên cứu xuyên suốt từ thời cổ đại cho đến ngày nay.
Ở mỗi thời kỳ, có những vấn đề lý luận khác nhau về công lý đƣợc đề cập và nhấn mạnh. Thời kỳ cổ đại: Công lý là cơ sở tồn tại của xã hội và chính quyền Công lý đƣợc đề cập ngay từ trong Bộ luật Hammurabi của Nhà nƣớc Lƣỡng Hà cổ đại thời kì 1972-1750 TCN. Theo tác giả Judith Levin [137, p.15], trong Bộ luật Hammurabi, nhà nƣớc một mặt coi công lý và chính nghĩa là cơ sở của nền cai trị nhân từ, công bằng, đồng thời xem công lý là việc áp dụng hình phạt ngang bằng với thiệt hại mà kẻ phạm tội gây ra, hay sự trả thù tƣơng ứng (nguyên tắc báo thù Talion: „Mắt đền mắt‟). Đến nền văn minh Hy Lạp cổ đại, quan niệm về công lý trở lên đa dạng hơn, theo đó công lý không chỉ đơn thuần đƣợc xem là việc đáp trả ngang bằng, mà còn bao gồm việc hạn chế sự bất công và bảo đảm sự đền bù tƣơng đối cho những bất công đó.
Đây chính là cơ sở dẫn đến việc đề cao vai trò của luật pháp trong xã hội. Những quan điểm tiêu biểu về công lý trong thời kỳ cổ đại đƣợc thể hiện thông qua tác phẩm của các nhà tƣ tƣởng nổi tiếng nhƣ: - Plato (428-348 TCN): Ông là nhà triết học Hy Lạp và là học trò xuất sắc của Socrates. Thông qua những câu chuyện trong cuốn Republic (Cộng hòa) [60], 9 ông đã truyền tải cách diễn giải của Socrate và của mình về công lý. Theo Plato, quan điểm Socrate là cần suy nghĩ sáng suốt, trung thực, giản dị, biết cách tƣ duy duy lý thì mới có công lý cho xã hội.
Về phía mình, Plato nhấn mạnh công lý là một khái niệm thể hiện phẩm hạnh và sự hài hòa của con ngƣời với cộng đồng, có liên quan trực tiếp đến khả năng tự kiểm soát của cá nhân. Công lý đòi hỏi con ngƣời sống giản dị, nhân hậu, tử tế, rời xa lòng tham lam, sự xa hoa và làm đúng chức phận của mình. Đặc biệt, Plato đã nhìn thấy vai trò quan trọng của pháp luật với tính chất là nền tảng để bảo đảm công lý và sự thịnh vƣợng trong xã hội. Ông chia công lý thành hai loại là „công lý phân phối” (distributive justice) và „công lý cải tạo” (corrective justice), trong đó công lý phân phối ngụ ý việc nhà nƣớc phân chia lợi ích và sự thịnh vƣợng cho mỗi công dân đúng theo những gì mà họ xứng đáng đƣợc hƣởng.
Dạng công lý này chủ yếu gắn với lĩnh vực chính trị, trong đó Aristotle ủng hộ sự đối xử khác biệt giữa mọi ngƣời trong xã hội. Công lý cải tạo thiên về việc sửa chữa lỗi lầm, thiệt hại do hành động của một chủ thể này đối với chủ thể khác dựa trên nguyên tắc tƣơng ứng (proportional principle). Công lý cải tạo đƣợc chia làm hai loại, một loại liên quan đến các giao dịch tự nguyện (dân sự - ví dụ: mua, bán, vay, …) và một loại liên quan đến các giao dịch không tự nguyện (hình sự - ví dụ: trộm, cƣớp, phá hoại, ám sát,…) Bƣớc sang thời La Mã cổ đại, nhà lý luận chính trị tiêu biểu thời này là Marcus Tullius Cicero (106-43 TCN), trong cuốn Cicero: On Government (Cicero: Bàn về chính quyền) [48] cho rằng, cơ sở cho sự tồn tại và vận hành của chính quyền chính là „công lý‟. Bản chất tự nhiên của con ngƣời là bất công, kẻ mạnh áp bức kẻ yếu, vì vậy, chính nhờ công lý mới đem lại tiến bộ xã hội.
Công lý là một giá trị quan trọng nhằm giữ xã hội thắt chặt bên nhau, nó cho phép chúng ta cùng nhau theo đuổi những điều tốt đẹp chung vì sự tồn tại của xã hội. Muốn nhƣ vậy, con ngƣời phải hợp tác cùng nhau và chịu sự ràng buộc với nhau theo cách nào đó. Cách 10 hợp tác đó, theo Cicero, chính là xây dựng một chính quyền để quản lý mọi vấn đề trong xã hội, và yếu tố ràng buộc đó chính là pháp luật. Thời kỳ trung đại: Công lý gắn liền với đạo đức Trong thời trung đại, công lý đƣợc xem nhƣ một phẩm hạnh, là một thƣớc đo về hành động đúng đắn.
Ở thời đại này, hai nhà tƣ tƣởng tiêu biểu cần kể đến đó là St. Trong cuốn The City of God (Thành phố của Thiên chúa) - một trong những tác phẩm quan trọng nhất của nhà thần học St. Augustine mà có ảnh hƣởng lớn tới nền tƣ tƣởng phƣơng Tây – đã đề cập tới công lý. Trong cuốn sách này, St.
Augustine coi công lý là phẩm hạnh mang tính thể chế, tính chính trị của mỗi xã hội. Tính chính đáng, chính nghĩa của một chính quyền thƣờng đƣợc đánh giá qua việc nhà nƣớc đó có thừa nhận, bảo vệ và bảo đảm việc thực thi công lý hay không. Theo ông: „Nếu không có công lý, nhà nƣớc chỉ là một băng cƣớp có tổ chức mà thôi‟. Ông đƣa ra dẫn chứng về sự giống nhau giữa „những tên cƣớp biển‟ và „vị vua Alexander Đại đế‟, trong đó cƣớp biển và hoàng đế bản chất đều là những kẻ cƣớp bóc, sự khác nhau giữa hai bên chỉ nằm ở số lƣợng tàu thuyền (dùng một thuyền thì bị xem là cƣớp biển, còn dùng một hạm đội thì sẽ đƣợc xem là nhà vua) [125].
Nói về công lý, Thomas Aquinas cũng có quan điểm gần giống với St Augustine. Trong cuốn The Summa Theologica (đƣợc viết trong khoảng thời gian từ năm 1265 đến năm 1274), Thomas Aquinas cũng xem công lý là “một phẩm hạnh cốt yếu‟. Ông cho rằng, giống nhƣ tất cả đức hạnh khác, công lý là một nguyên tắc tinh thần nội sinh, mang tính chủ quan để một chủ thể có hành động đúng đắn. Vì thế, chất lƣợng của công lý phụ thuộc vào ý chí của con ngƣời.
Công lý là một đức hạnh để điều chỉnh một ngƣời trong mối quan hệ với những ngƣời khác, bởi vì nó biểu thị cho một dạng bình đẳng, đó là “bình đẳng giữa điều này với những điều khác‟ [184]. Thời kỳ cận hiện đại: Công lý gắn với pháp luật, phúc lợi và tự do cá nhân Sang thời cận hiện đại đã xuất hiện rất nhiều tƣ tƣởng tiến bộ, khai phóng về công lý, đặc biệt ở các nƣớc phƣơng Tây. Những tƣ tƣởng thời này đặt nền móng cho nhận thức về công lý mà đến nay vẫn tiếp tục đƣợc tham khảo, vận dụng, cụ thể bao gồm: 11 - Quan niệm về công lý gắn với pháp luật Điển hình trong thời đại này là các nhà tƣ tƣởng nổi tiếng nhƣ Thomas Hobbes, Spinoza, J. Mặc dù sống ở những giai đoạn khác nhau nhƣng khi bàn về nguồn gốc của công lý, cả ba nhà tƣ tƣởng này đều có một điểm chung là xác định tầm quan trọng của „khế ƣớc xã hội‟, hay hiểu theo cách khác là pháp luật, bởi họ cho rằng một xã hội tự nhiên, bản năng là một xã hội loạn lạc và khó đảm bảo đƣợc công bằng, công lý khi mà mỗi cá nhân đều có những vị kỷ của riêng mình.
Do vậy, họ đề cao vai trò của pháp luật; mặc dù pháp luật không phải là công lý, nhƣng nó là công cụ giúp ngƣời dân tìm đƣợc đến công lý. Thomas Hobbes (1588-1679) khi bàn về xã ƣớc (khế ƣớc xã hội) đã cho rằng, thân phận con ngƣời trƣớc khi có xã ƣớc là “đơn độc, nghèo khổ, đáng tởm, tàn bạo và ngắn ngủi”. Ông khẳng định rằng, luật tự nhiên dạy chúng ta sự cần thiết phải tự bảo tồn, luật pháp và chính quyền là cần thiết để bảo vệ trật tự và an ninh cho chúng ta. Vì thế, với xã ƣớc, chúng ta phải từ bỏ sự tự do tự nhiên của mình để tạo ra một xã hội trật tự.
Spinoza (1622-1677) thì cho rằng, công lý là biểu hiện của lý trí, không bao giờ xen lẫn với cảm xúc, bởi cảm xúc của con ngƣời luôn gắn với mƣu lợi ích kỷ cho mình, dễ làm khó bỏ, con ngƣời vì thế khó mà có thể nhận biết đƣợc lý luận. Trong tác phẩm “Khế ƣớc xã hội”, Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778) viết: „Mọi công lý đến từ Đức Chúa Trời, và Ngài là nguồn gốc duy nhất của công lý; nhƣng nếu chúng ta biết cách tiếp nhận nguồn công lý cao siêu nhƣ vậy thì sẽ chẳng cần đến chính phủ và luật pháp. Hiển nhiên là phải có một loại công lý có tính phổ cập đến tất cả mọi ngƣời và từ lý trí mà ra; nhƣng muốn đƣợc chúng ta chấp nhận, thì công lý này phải có tính tƣơng hoán giữa ngƣời với ngƣời. Cứ theo bản tính của con ngƣời mà nói thì luật pháp của công lý tự nhiên không có hiệu quả với con ngƣời, vì thiếu tính chế tài; chúng chỉ làm lợi cho kẻ xấu và làm hại ngƣời công bằng, vì ngƣời công bằng tôn trọng luật pháp với tất cả mọi ngƣời, trong khi kẻ xấu thì lại bất tuân luật lệ‟ [44, tr.
Điều này có nghĩa là theo J. Rousseau, công lý là luật cơ bản, là luật tự nhiên của xã hội nhƣng phải đƣợc ghi nhận, thể hiện qua các quy định pháp luật. Đây cũng chính là đòi hỏi của ông về tính đảm bảo công lý của pháp luật. 12 - Công lý gắn với phúc lợi Tiêu biểu cho quan điểm gắn công lý với phúc lợi là hai nhà tƣ tƣởng Jeremy Bentham và John Stuart Mill.
Jeremy Bentham (1748-1832) là luật gia, chính trị gia ngƣời Anh.