Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hoàng Hương Thủy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Lan Chi, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021, thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 938 01 01.03).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, quyền con người trong tư pháp hình sự là lĩnh vực trực tiếp tác động đến các quyền cơ bản như quyền sống, quyền tự do thân thể, danh dự và nhân phẩm của cá nhân trước bộ máy quyền lực công. Khi tham gia quan hệ pháp luật tư pháp hình sự, phụ nữ chịu tình trạng dễ bị tổn thương "kép": một mặt do địa vị pháp lý của bên yếu thế trong mối quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng được trao thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc; mặt khác do các đặc điểm sinh học, thể chất, sức khỏe sinh sản và định kiến giới trong xã hội mang lại. Mặc dù Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế cơ bản về quyền con người và nội luật hóa vào Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, thực tiễn áp dụng vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể. Trong các năm 2015, 2018 và 2019, Việt Nam liên tục nhận các khuyến nghị từ Ủy ban CEDAW, Ủy ban ICCPR và Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ cập (UPR) về việc tháo gỡ rào cản bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong tư pháp.
Về mặt thực tế, số liệu từ Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 cho thấy 62,9% phụ nữ từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần hoặc kinh tế do chồng/bạn tình gây ra trong đời; 32% từng chịu bạo lực thể xác và/hoặc tình dục; 31,6% chịu bạo lực trong 12 tháng trước khảo sát; 11,4% từng bị quấy rối tình dục và 4,4% từng bị xâm hại tình dục. Trong 10 năm (2010–2019), hệ thống Tòa án nhân dân toàn quốc đã đưa ra xét xử sơ thẩm khoảng 600 nghìn vụ án xâm phạm quyền con người của phụ nữ, tương đương gần 300 nghìn nạn nhân (trung bình mỗi năm có khoảng 28 nghìn phụ nữ bị xâm hại). Đối với phụ nữ là người phạm tội, thực tiễn giam giữ còn bất cập lớn khi thiếu các cơ chế và cơ sở vật chất dành riêng cho giới nữ, dẫn đến tình trạng phụ nữ mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi bị tạm giam kéo dài, thiếu thốn điều kiện vệ sinh, chăm sóc y tế, cá biệt còn hiện tượng bức cung, dùng nhục hình hoặc thái độ thiếu chuẩn mực từ cán bộ tiến hành tố tụng.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự; làm rõ thực trạng bảo vệ quyền con người của phụ nữ khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự trên cả phương diện lập pháp và áp dụng pháp luật; trên cơ sở đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người của phụ nữ ở nước ta.
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án giải quyết bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự, từ đó chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu;
- Thứ hai, nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền con người của phụ nữ và bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự, tập trung làm rõ những nội dung cơ bản như khái niệm, đặc điểm, cơ sở, ý nghĩa và phương thức bảo vệ; làm rõ đối tượng, phạm vi các quyền cần được bảo vệ trên cơ sở phân tích đặc điểm chung, đòi hỏi đặc thù về giới, có tham chiếu các chuẩn mực quốc tế;
- Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự Việt Nam giai đoạn 10 năm (2010–2019) ở hai khía cạnh: bảo vệ phụ nữ với tư cách là người phạm tội (người bị buộc tội, người chấp hành án, người bị tạm giữ, tạm giam) và bảo vệ phụ nữ với tư cách là nạn nhân của tội phạm (người bị hại);
- Thứ tư, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự Việt Nam nhằm bảo vệ quyền con người của phụ nữ và các giải pháp hữu quan khác nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự.
- Phạm vi chủ thể: Phụ nữ và người chuyển giới nữ từ đủ 18 tuổi trở lên tham gia tư pháp hình sự với tư cách nạn nhân của tội phạm (bị hại) hoặc người phạm tội (người bị buộc tội, bị kết án, phạm nhân, người chấp hành án). Luận án không nghiên cứu đối tượng trẻ em gái, người chưa thành niên; không nghiên cứu phụ nữ với tư cách người làm chứng, đương sự khác, người tiến hành tố tụng hoặc cán bộ tư pháp nữ.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự; không tập trung nghiên cứu pháp luật về đấu tranh phòng chống tội phạm, luật tổ chức các cơ quan tư pháp và các thiết chế bổ trợ tư pháp.
- Phạm vi không gian và thời gian: Thực tiễn áp dụng pháp luật trên phạm vi toàn quốc từ năm 2010 đến năm 2019; khảo sát ngẫu nhiên 300 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm có phụ nữ là người bị hại hoặc chủ thể tội phạm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tình hình nghiên cứu trong nước được tác giả phân tích qua ba nhóm công trình:
- Nhóm công trình nghiên cứu đa ngành luật học về bảo vệ quyền con người và các nội dung có liên quan đến phụ nữ: Nhóm này gồm các giáo trình nền tảng của Võ Khánh Vinh, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, và Viện Nghiên cứu Quyền con người thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Các công trình này phân tích nguồn gốc, bản chất, nội dung của quyền con người và cơ chế bảo đảm trong Nhà nước pháp quyền. Ở góc độ giới, luận án tiến sĩ của Trần Thị Hồng Lê lần đầu đưa ra khái niệm quyền con người của phụ nữ gắn với đặc điểm giới tính, phân định thành hai nhóm: các quyền đặc thù (mang thai, sinh nở, bảo hộ thiên chức làm mẹ) và các quyền dễ bị tổn thương (bình đẳng giới, an toàn tình dục, tự do cá nhân). Các nghiên cứu đa ngành khác đã phân tích quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử trong nhiều lĩnh vực nhưng chưa hệ thống hóa các biện pháp bảo vệ quyền phụ nữ trong tư pháp hình sự.
- Nhóm công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự: Tiêu biểu là công trình chuyên khảo do Nguyễn Ngọc Chí chủ biên phân tích khái niệm, đặc điểm và cơ chế bảo đảm quyền con người trong hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự; công trình chuyên khảo của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh với 18 bài viết về bảo vệ quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo, người bị hại; chuyên khảo của Lê Lan Chi về bảo đảm quyền của nạn nhân tội phạm và phạm nhân nữ trong thi hành án phạt tù. Bên cạnh đó, các công trình của Đỗ Đức Hồng Hà, Hoàng Thị Minh Sơn, Đỗ Thị Phượng, Nguyễn Đức Phúc, Lê Hữu Trí đã làm rõ các nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền bào chữa, việc khám xét thân thể phụ nữ, chế độ không tạm giam hoặc hoãn thi hành án tù đối với phụ nữ mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu xem xét quyền con người nói chung hoặc chỉ xem phụ nữ là một bộ phận minh họa thuộc nhóm yếu thế.
- Nhóm công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền con người của phụ nữ với tư cách là chủ thể tội phạm hoặc nạn nhân/bị hại: Về phía người phạm tội, Báo cáo đánh giá tình hình phụ nữ trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam của UN Women và UNODC (2013) đã mô tả thực trạng cơ sở giam giữ không phù hợp đặc tính sinh học của nữ giới và các khó khăn trong tiếp cận trợ giúp pháp lý; luận án của Trần Thị Hồng Lê phân tích các quy định bảo vệ người mẹ mang thai hoặc nuôi con nhỏ. Về phía nạn nhân, nghiên cứu của UNODC và Cơ quan Phụ nữ Liên hợp quốc (2013), nghiên cứu đa quốc gia của Liên hợp quốc (2013) về phản ứng của tòa án đối với vụ án hiếp dâm, cùng các công trình của Phạm Hồng Hải, Nguyễn Chí Công, Hoàng Mai Hương và Chu Thị Thúy Hằng (về quyền phụ nữ trong bối cảnh HIV/AIDS) đã chỉ ra các rào cản tố tụng khiến nạn nhân bạo lực tình dục từ bỏ khiếu kiện.
Tình hình nghiên cứu ngoài nước được luận án khảo cứu qua hai nhóm chính:
- Nhóm nghiên cứu đa ngành: Các công trình của M. Hager về Nhà nước pháp quyền, Mary Eastwood về tiêu chuẩn kép trong Hiến pháp đối với quyền phụ nữ, Amy E. Hirsch về cải cách phúc lợi và tư pháp hình sự, khảo sát nhận thức nhân quyền của Peter D. Hart Research Associates (1997), báo cáo của APAP (2001), nghiên cứu lý luận của Frances Butler (2002), các nghiên cứu thực nghiệm về bạo lực gia đình của Pinar Ilkkaracan (1996), buôn bán phụ nữ của Nair P. (2002–2003), quấy rối tình dục của Catherine Sokum Tang (2001), công lý đối với phụ nữ của Hilary Allen (1987), và quyền mang thai trong luật hình sự của Jean Reith Scheroedel, Pamela Fiber, Bruce D. Sneyder.
- Nhóm nghiên cứu tư pháp hình sự: Cẩm nang hướng dẫn về quyền con người dành cho Thẩm phán, Công tố viên và Luật sư của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Nhân quyền phối hợp Hiệp hội Luật gia Quốc tế biên soạn; báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về các sự kiện tại Saudi Arabia năm 2017; chuyên khảo so sánh của John A. Andrew (1982) về tố tụng hình sự; nghiên cứu của Clovis C. Morrison (1968), Jeremy McBride (2009) về án lệ của Tòa án Châu Âu về Nhân quyền; nghiên cứu tại Jordan về vai trò của tòa án tại Trung Đông; các bài viết của J.S Fawcett, K. Lidstone, Mare Chatel; bộ tài liệu đào tạo nhân viên trại giam của Cao ủy Liên hợp quốc về Nhân quyền và sổ tay quản lý trại giam của Andrew Coyle nhấn mạnh tiêu chuẩn đối xử nhân đạo và quyền của phụ nữ bị tước tự do.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và đồng bộ về bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong toàn bộ chu trình tư pháp hình sự Việt Nam (kết hợp cả ba phân ngành: hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự). Các tài liệu trước đây hoặc dừng lại ở lý luận quyền con người nói chung, hoặc chỉ tiếp cận đơn lẻ theo một giai đoạn tố tụng hoặc một ngành luật thực định mà chưa giải quyết thấu đáo phương thức bảo vệ quyền con người có đáp ứng giới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận và cách tiếp cận: Luận án dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người, bình đẳng giới. Luận án sử dụng cách tiếp cận dựa trên quyền con người có đáp ứng giới (Gender responsive and rights-based approach) với nguyên tắc "lấy quyền con người làm trung tâm". Cách tiếp cận này nhận diện các quyền con người của phụ nữ bị xâm hại hoặc bị ảnh hưởng trong tố tụng hình sự xuất phát từ sự khác biệt sinh học và cấu trúc xã hội về giới, từ đó xác định trách nhiệm pháp lý bắt buộc của Nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng nhân danh Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền cho phụ nữ.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận án để mổ xẻ, khái quát các luận điểm lý thuyết, quy định pháp luật và dữ liệu thực tiễn;
- Phương pháp cấu trúc hệ thống: Sử dụng chủ yếu trong Chương 2 và Chương 3 nhằm đặt các quy phạm bảo vệ quyền phụ nữ trong mối liên hệ hữu cơ với toàn bộ hệ thống pháp luật tư pháp hình sự Việt Nam;
- Phương pháp luật học so sánh: Sử dụng trong Chương 2 và Chương 3 để đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp luật quốc tế (Tuyên ngôn thế giới về quyền con người UDHR 1948, Công ước ICCPR 1966, Công ước ICESCR 1966, Công ước CEDAW 1979, Công ước CAT 1984) và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia;
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Sử dụng trong Chương 3 nhằm nhận diện sự phát triển của nhận thức lập pháp và chính sách hình sự của Việt Nam qua các thời kỳ, phân định rõ giai đoạn trước năm 2015 và từ năm 2015 đến nay;
- Phương pháp điều tra xã hội học và vụ việc điển hình: Khảo sát bằng bảng hỏi đối với 300 cán bộ trong hệ thống tư pháp hình sự (bao gồm Thẩm phán, Thư ký tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư, Cảnh sát/Công an, Cán bộ/công chức Bộ Tư pháp) về nhận thức và thực tiễn thực thi thủ tục tố tụng đối với phụ nữ là người phạm tội và người bị hại. Đồng thời, tác giả khảo sát ngẫu nhiên 300 bản án, hồ sơ vụ án hình sự ở hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm có phụ nữ là người bị hại hoặc chủ thể tội phạm;
- Phương pháp thống kê: Xử lý và phân tích số liệu điều tra xã hội học bằng phần mềm thống kê SPSS; tổng hợp và phân tích chuỗi số liệu thống kê xét xử, khởi tố của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân giai đoạn 2010–2019.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Báo cáo thống kê chính thức của ngành Tòa án nhân dân, ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 2010 đến 2019; Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019; các báo cáo và khuyến nghị của UN Women, UNODC, Ủy ban CEDAW, Ủy ban ICCPR; 300 phiếu trả lời khảo sát xã hội học của cán bộ tư pháp; 300 bản án hình sự thực tế được ban hành trong giai đoạn nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến đề tài thành các nhóm vấn đề từ lý luận đa ngành về quyền con người đến bảo vệ quyền con người bằng các ngành luật cụ thể (hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự), và bảo vệ quyền phụ nữ theo tư cách tố tụng. Chương này đánh giá các kết quả nghiên cứu mà luận án kế thừa: khung lý thuyết chung về quyền con người trong Nhà nước pháp quyền, các nguyên tắc tố tụng bảo đảm quyền cá nhân, các chuẩn mực pháp lý quốc tế về đối xử nhân đạo. Đồng thời, tác giả chỉ rõ những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo: thiếu sự tích hợp lăng kính giới trong nghiên cứu tư pháp hình sự, thiếu sự đánh giá toàn diện các giai đoạn tố tụng đối với nữ giới, và chưa xây dựng được hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ có tính nhạy cảm giới. Từ đó, tác giả xác định câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận chuyên biệt về đề tài. Tác giả đưa ra định nghĩa về quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự, xác định các đặc điểm cốt lõi gồm: tính phổ quát gắn liền với tính đặc thù giới tính, tính dễ bị tổn thương "kép" và đòi hỏi phải có sự bảo hộ đặc biệt xuất phát từ thiên chức làm mẹ và thể chất sinh học. Về bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự, chương làm rõ khái niệm, cơ sở pháp lý, cơ sở đạo đức, cơ sở thực tiễn và ý nghĩa xã hội - pháp lý của hoạt động này. Tác giả phân tích các phương thức bảo vệ thông qua ba cơ chế: phương thức lập pháp (ghi nhận quyền và quy định nghĩa vụ), phương thức áp dụng pháp luật (thực hiện đúng thẩm quyền, tôn trọng đặc thù giới của người tiến hành tố tụng) và phương thức giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Bên cạnh đó, chương 2 phân tích sâu các chuẩn mực và cơ chế bảo vệ theo pháp luật quốc tế, bao gồm các công ước phổ quát (UDHR, ICCPR, CEDAW, CAT) cùng các hướng dẫn chuyên biệt của Liên hợp quốc về tư pháp đối với nạn nhân và người bị tước tự do là nữ giới.
Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự Việt Nam
Chương 3 rà soát sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam, phân chia thành giai đoạn trước năm 2015 và hệ thống pháp luật hiện hành (Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Thi hành án hình sự năm 2019; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015). Tác giả chỉ ra các điểm tiến bộ như miễn trách nhiệm hình phạt tử hình cho phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, quy định người khám xét thân thể phụ nữ phải là người cùng giới.
Về mặt thực tiễn giai đoạn 2010–2019, tác giả phân tích dữ liệu áp dụng pháp luật đối với hai nhóm chủ thể:
- Thực tiễn bảo vệ quyền của phụ nữ là nạn nhân: Hệ thống Tòa án nhân dân sơ thẩm xét xử khoảng 600 nghìn vụ án xâm phạm quyền của phụ nữ với gần 300 nghìn nạn nhân. Tác giả phát hiện tỷ lệ vụ việc bạo lực tình dục được đưa ra truy tố và xét xử còn rất thấp so với thực tế; trong các vụ án hiếp dâm, hơn một nửa số vụ việc bị dừng lại ở giai đoạn điều tra do thái độ thiếu nhạy cảm giới của cán bộ tố tụng làm nạn nhân mặc cảm, xấu hổ, rút đơn tố cáo; các quy định về thu thập chứng cứ, giám định pháp y và bảo vệ bí mật đời tư nạn nhân chưa có quy trình riêng biệt.
- Thực tiễn bảo vệ quyền của phụ nữ là người phạm tội: Dữ liệu phân tích chỉ ra tỷ lệ phụ nữ phạm tội thấp hơn nam giới, hành vi phần lớn là tội ít nghiêm trọng hoặc tội phạm về kinh tế, ma túy, tài sản xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam vẫn xảy ra đối với phụ nữ mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; cơ sở giam giữ thiếu điều kiện vật chất, nguồn nước sạch, chế độ dinh dưỡng và đồ dùng vệ sinh cá nhân thiết yếu; vẫn còn hiện tượng bức cung, dùng nhục hình trong quá trình điều tra.
Bảng số liệu dưới đây tổng hợp một số vụ án điển hình có bị cáo là nữ giới được trích xuất từ mẫu 300 bản án khảo sát của luận án, phản ánh tình trạng nuôi con nhỏ, mang thai và việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, hình phạt:
| Số hiệu bản án |
Cơ quan xét xử |
Tội danh áp dụng (theo BLHS 1999 sửa đổi 2009) |
Tình trạng bị cáo và diễn biến áp dụng biện pháp ngăn chặn |
Hình phạt tuyên |
| 127/2015/HSST |
TAND quận Long Biên |
Cưỡng đoạt tài sản (Khoản 1 Điều 135) |
Đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; bị bắt giam ngày 23/8/2014, hủy bỏ tạm giam ngày 05/12/2014 |
12 tháng tù cho hưởng án treo |
| 124/2015/HSST |
TAND TP. Hà Nội |
Mua bán trái phép chất ma túy (Khoản 2 Điều 194) |
Bị cáo có 2 tiền án, mắc bệnh HIV; bị bắt giữ ngày 10/7/2014 khi đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi |
13 năm tù |
| 331/2014/HSST |
TAND TP. Hà Nội |
Trộm cắp tài sản (Khoản 4 Điều 138) |
Bị cáo có 2 tiền án; bị bắt giữ ngày 30/9/2013, hủy bỏ tạm giữ ngày 02/10/2013 do đang mang thai tháng thứ 8 |
Tổng hợp 2 bản án: 16 năm tù |
| 343/2013/HSST |
TAND quận Long Biên |
Mua bán trái phép chất ma túy (Khoản 1 Điều 194) |
Phạm tội khi đang có thai, thành khẩn khai báo; bị bắt giữ ngày 09/9/2013, thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 15/9/2013 |
32 tháng tù |
| 131/2011/HSST |
TAND quận Long Biên |
Tàng trữ trái phép chất ma túy (Khoản 1 Điều 194) |
Có 1 tiền án trong thời gian thử thách; tạm giữ ngày 08/3/2011, thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 28/4/2011 (tại ngoại); đang mang thai tháng thứ 5 |
Tổng hợp hình phạt: 66 tháng tù |
| 317/2011/HSST |
TAND quận Long Biên |
Tàng trữ trái phép chất ma túy (Khoản 1 Điều 194) |
Bị cáo có 1 tiền án chưa xóa án tích; tạm giữ ngày 28/6/2011, thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 01/7/2011 (tại ngoại); đang mang thai tháng thứ 7 |
06 năm tù |
Chương 4: Các quan điểm và giải pháp tăng cường bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự Việt Nam
Chương 4 xác định hệ thống quan điểm chỉ đạo trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam: bảo đảm tính nhân đạo, bảo đảm quyền con người là trung tâm, tôn trọng bình đẳng giới thực chất và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện:
- Hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự theo hướng lượng hóa cụ thể các tình tiết định khung tăng nặng khi hành vi phạm tội xâm phạm nghiêm trọng thân thể, nhân phẩm phụ nữ; bổ sung chính sách xử lý khoan hồng đối với phụ nữ là nạn nhân bị bạo lực gia đình dẫn đến phạm tội chống trả; sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm cấm áp dụng biện pháp tạm giam đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi (ngoại trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng); thiết lập thủ tục tố tụng đặc thù lấy lời khai nạn nhân bạo lực tình dục thông qua phòng kín hoặc cán bộ nữ; sửa đổi Luật Thi hành án hình sự và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam nhằm bảo đảm tiêu chuẩn buồng giam riêng, cung cấp vật phẩm y tế, chế độ thai sản và bảo đảm sự phát triển của trẻ em theo mẹ trong trại;
- Hướng dẫn áp dụng pháp luật và tổng kết thực tiễn: Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về việc giải quyết các vụ án xâm hại tình dục phụ nữ, thu thập và đánh giá chứng cứ phi vật thể, giám định pháp y có tính nhạy cảm giới;
- Các giải pháp tổ chức thực hiện: Tăng cường tỷ lệ nữ cán bộ tham gia điều tra, truy tố, xét xử; tổ chức các chương trình tập huấn bắt buộc về kiến thức giới và kỹ năng lấy lời khai nhạy cảm giới cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên; đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất các trại tạm giam, trại giam phù hợp với đặc thù sinh học của phụ nữ.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đóng góp cho sự hình thành và phát triển lý luận chung về quyền con người của phụ nữ trong tư pháp hình sự Việt Nam; làm sáng tỏ các khái niệm, cơ sở pháp lý - đạo đức và xác lập ba phương thức bảo vệ (lập pháp, thực thi, giám sát) dựa trên cách tiếp cận quyền có đáp ứng giới.
Về mặt thực tiễn, luận án đánh giá có hệ thống thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi giai đoạn 10 năm (2010–2019); làm rõ những bất cập, mâu thuẫn trong các đạo luật trụ cột gồm Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Kết quả phân tích định lượng từ 300 phiếu khảo sát cán bộ tư pháp và 300 bản án hình sự thực tế cung cấp các căn cứ thực chứng về những rào cản tố tụng mà phụ nữ phải đối mặt.
Về mặt giải pháp, luận án đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ từ sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật, ban hành nghị quyết hướng dẫn xét xử, cải cách thủ tục điều tra – xét hỏi, đến các giải pháp về tổ chức bộ máy, cơ sở hạ tầng giam giữ và đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có tính nhạy cảm giới cho đội ngũ cán bộ tư pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các khía cạnh:
- Giới hạn độ tuổi: Luận án chỉ nghiên cứu đối tượng phụ nữ và người chuyển giới nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; các vấn đề quyền con người của trẻ em gái và người chưa thành niên không thuộc phạm vi giải quyết của đề tài;
- Giới hạn tư cách tố tụng: Đề tài tập trung vào tư cách nạn nhân (người bị hại) và người phạm tội (người bị buộc tội, chấp hành án); chưa mở rộng nghiên cứu quyền của phụ nữ với tư cách người làm chứng, đương sự trong các vụ án hình sự hoặc tư cách người tiến hành tố tụng là nữ giới;
- Giới hạn phạm vi ngành luật: Luận án chỉ tập trung vào luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự; chưa phân tích sâu pháp luật phòng chống tội phạm tổng thể và các thiết chế bổ trợ tư pháp (như trợ giúp pháp lý ngoài tố tụng, giám định tư pháp xã hội hóa).
Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình khoa học trong tương lai có thể mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền con người đối với người chưa thành niên là nữ giới trong tố tụng hình sự, quyền của nữ cán bộ tư pháp trong thực thi công vụ, cũng như hoàn thiện các thiết chế bổ trợ tư pháp và dịch vụ công xã hội hỗ trợ phụ nữ tái hòa nhập cộng đồng sau chấp hành án.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Cơ quan lập pháp và các ban soạn thảo luật: Cung cấp cơ sở khoa học và luận cứ thực chứng phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự, Luật Thi hành án hình sự và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam nhằm đáp ứng các khuyến nghị quốc tế của Ủy ban CEDAW, ICCPR;
- Cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra): Làm tài liệu tham chiếu trong quá trình xây dựng các quy chế nghiệp vụ nội bộ, cẩm nang hướng dẫn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án có phụ nữ tham gia, đặc biệt là các vụ án xâm hại tình dục hoặc xét xử người phạm tội đang mang thai, nuôi con nhỏ;
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo trong các môn học Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự và môn Lý luận về quyền con người;
- Các tổ chức xã hội và tổ chức quốc tế: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực chứng phục vụ các chương trình giám sát, tư vấn chính sách và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
-
Tình trạng tổn thương "kép" của phụ nữ trong tư pháp hình sự được luận án luận giải như thế nào?
Tổn thương "kép" là sự kết hợp giữa địa vị pháp lý bất bình đẳng của người tham gia tố tụng (bên yếu thế phải đối diện với quyền lực cưỡng chế nghiêm khắc của cơ quan tư pháp) và các nguy cơ dễ bị tổn hại do đặc điểm sinh học, thể chất, sức khỏe sinh sản, thiên chức làm mẹ và các định kiến xã hội về giới mang lại.
-
Dữ liệu thống kê về bạo lực đối với phụ nữ và số vụ án xâm phạm quyền con người của phụ nữ giai đoạn 2010–2019 được ghi nhận ra sao?
Theo Điều tra quốc gia năm 2019, 62,9% phụ nữ từng chịu ít nhất một hình thức bạo lực do chồng/bạn tình gây ra trong đời; 32% từng chịu bạo lực thể xác/tình dục; 11,4% từng bị quấy rối tình dục và 4,4% từng bị xâm hại tình dục. Trong 10 năm (2010–2019), hệ thống Tòa án nhân dân toàn quốc đã xét xử sơ thẩm khoảng 600 nghìn vụ án xâm phạm quyền con người của phụ nữ, tương đương gần 300 nghìn nạn nhân, trung bình mỗi năm có khoảng 28 nghìn nạn nhân nữ bị xâm hại.
-
Luận án sử dụng những công cụ và phương pháp thực nghiệm nào để thu thập, xử lý dữ liệu?
Tác giả đã tiến hành khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi đối với 300 cán bộ trong hệ thống tư pháp (Thẩm phán, Thư ký, Kiểm sát viên, Luật sư, Cảnh sát/Công an, Cán bộ Bộ Tư pháp); khảo sát thực tế 300 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm có phụ nữ là bị hại hoặc bị cáo; xử lý và phân tích số liệu điều tra bằng phần mềm thống kê SPSS.
-
Những tồn tại cụ thể trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và chế độ giam giữ đối với phụ nữ phạm tội là gì?
Thực tiễn cho thấy còn tình trạng phụ nữ mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi bị tạm giam trong thời gian dài; cơ sở giam giữ thiếu điều kiện chăm sóc y tế, vệ sinh cá nhân thiết yếu; còn xảy ra trường hợp vi phạm thủ tục, thời hạn tạm giữ, tạm giam và hiện tượng bức cung, mớm cung trong giai đoạn điều tra.
-
Luận án đề xuất giải pháp lập pháp cốt lõi nào nhằm bảo vệ phụ nữ là nạn nhân của tội phạm tình dục?
Tác giả đề xuất ban hành quy trình tố tụng đặc thù có tính nhạy cảm giới: quy định nạn nhân có quyền yêu cầu làm việc với điều tra viên nữ; bố trí phòng xét hỏi kín đáo; giảm thiểu tối đa việc buộc nạn nhân phải kể lại chi tiết vụ việc nhiều lần hoặc đối mặt trực tiếp với bị cáo tại phiên tòa; thiết lập quy chế thu thập chứng cứ bảo vệ danh dự, nhân phẩm và giữ bí mật đời tư nạn nhân.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Bảo vệ quyền con người của phụ nữ trong lĩnh vực tư pháp hình sự Việt Nam" của tác giả Hoàng Hương Thủy là công trình nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ, giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn bảo vệ quyền của phụ nữ khi tham gia tố tụng hình sự. Dưới cách tiếp cận dựa trên quyền con người có đáp ứng giới, luận án đã làm rõ tính chất tổn thương đặc thù của nữ giới ở cả hai tư cách nạn nhân và người phạm tội. Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm từ 300 cán bộ tư pháp và 300 bản án, làm căn cứ vững chắc cho việc kiến nghị sửa đổi pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự ở Việt Nam.