Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Qua nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án đã công bó, chúng tôi thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, hệ thống các nội dung liên quan đến bảo vệ QCN của phụ nữ trong TPHS. Các nhà khoa học chủ yêu tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề (phân nhóm theo thứ tự từ xa đến gần với dé tài luận án): Mot la: nhóm công trình nghiên cứu đa ngành luật học về bảo vệ QCN và các nội dung có liên quan đến bảo vệ quyền của phụ nữ; Hai là: nhóm công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự; Ba la: nhóm công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền con người của phụ nữ với tư cách là người bị buộc tội hay là nạn nhân/bị hại trong vụ án hình sự. Nhóm công trình nghiên cứu đa ngành luật học về bảo vệ quyền con người và các nội dung bảo vệ quyền có liên quan đến phụ nữ 1.
Nghiên cứu lý luận về quyên con người, quyên con người của phụ nữ Ở nước ta, việc nghiên cứu về QCN và các nội dung liên quan đến bảo vệ QCN được bắt đầu được chú trọng từ cuối thập ky 80 của thế kỷ XX. Ở góc độ lý luận chung về quyền con người, có thể kế đến các các công trình đã được xuất bản với hình thức sách chuyên khảo, giáo trình nhằm phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, tiêu biểu như Giáo trình giảng day sau đại học “Quyển con người” của Võ Khánh Vinh; “Giáo trình Ly luận và pháp luật về Quyển con người ” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội và “Giáo trình Lý luận về quyển con người ” do Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn [130]; [35]; [48]. dù được tiếp cận theo những hướng khác nhau, nhưng nhìn chung các giáo trình đều tập trung giới thiệu về những van dé lý luận mang tính chất cốt lõi của QCN như: khái niệm, đặc trưng, nội dung, nguồn gốc, lịch sử phát triển của tư tưởng về QCN, luật pháp quốc tế và quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về QCN. Bên cạnh những nội dung mang 11 tính lý luận chung, các quy định liên quan đến bảo vệ QCN trong hệ thống pháp luật Việt Nam và quốc tế [123]; [12, tr.
39-43]; [49] cũng được nhiều học giả tiếp cận dưới góc độ đa ngành như pháp luật hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình, an sinh xã hội. khi nghiên cứu về các quan điểm, cách tiếp cận, mối quan hệ giữa QCN và quyền công dân, vấn đề bảo đảm, bảo vệ QCN trong Nhà nước pháp quyền [129]; [34]; [36]; [37]; [53]; [41]. Tuy không đề cập chi tiết đến việc bảo vệ QCN của phụ nữ, nhưng các công trình nghiên cứu này cũng đã xây dựng được cơ chế bảo đảm QCN trong Nhà nước pháp quyền và hình thành hệ thong các luận điểm cũng như giải pháp nhằm thực thi QCN góp phan quan trọng trong nghiên cứu về bảo vệ QCN của phụ nữ trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể. Nghiên cứu sinh có thé kế thừa kết quả nghiên cứu này dé hình thành khung lý thuyết về quyền con người của phụ nữ và các biện pháp bảo vệ quyền con người.
Bàn về khái niệm QCN, trong hầu hết các công trình này, các tác giả đều thừa nhận đây là phạm trù rất rộng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như chính trị, pháp lý, đạo đức, kinh tẾ. VÌ vậy nó được nghiên cứu, xem xét và định nghĩa theo các góc độ tiếp cận khác nhau. Hầu hết các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học pháp lý đều thống nhất quan niệm QCN là những giá trị đã được nhân loại thừa nhận chung mang tính phô biến và tính đặc thù nhưng không thé bị tước đoạt và phân chia, được ghi nhận, bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Khái niệm QCN (human rights) được đưa ra khá cụ thé, chi tiết trong nhiều tài liệu nhưng các tác phẩm này chưa đề cập đến khái niệm về QCN của phụ nữ (women’s human rights) [130]; [35]; [120]; [128]; [129]; [48].
Lan dau tién trong luận án Tiến sỹ của minh, Tran Thị Hồng Lê đưa ra khái niệm về QCN của phụ nữ chính là quyền phụ nữ, các quyền này phan ánh đặc điểm giới tính vốn có của mọi phụ nữ, trong đó bao gồm các QCN đặc thù mà chỉ riêng phụ nữ mới có và các QCN dé bị tổn thương do chủ sở hữu là phụ nữ [66]. Tác giả đã tiếp cận QCN của phụ nữ trong phạm vi hẹp với 2 nội dung là các quyền đặc thù của phụ nữ như quyền mang thai, sinh nở, quyền được bảo hộ thiên chức làm mẹ, phân biệt với các QCN nói chung và nhóm các QCN dễ bị tốn thương như quyền bình đăng giới, 12 quyền tự do và an toàn về tinh dục, quyền tự do và an ninh cá nhân, tự do hôn nhân. Trong khi đó, nếu tiếp cận ở phạm vi rộng, xuất phát từ quan niệm phụ nữ trước hết là một con người nên phụ nữ có tất cả những quyền được thừa nhận cho mọi con người thì quyền phụ nữ chỉ là một nội dung của QCN chứ không thể bao hàm toàn bộ khái nệm QCN của phụ nữ. Nghiên cứu da ngành luật học về bảo vệ quyên con người của phụ nữ Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cần đặt van dé bảo vệ QCN trong cách tiếp cận đa ngành và đa ngành luật học để có cái nhìn đa chiều khi đưa ra các phương thức bảo vệ đồng bộ tốt nhất [129].
Liên quan đến các nội dung bảo vệ QCN của phụ nữ, hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra khái niệm về bảo vệ QCN của phụ nữ mà các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến quyền của phụ nữ thuộc nhóm người dễ bị tốn thương được ghi nhận trong văn kiện quốc tế và luật pháp của Việt Nam [35, tr. Các tác giả xem xét QCN của phụ nữ dưới góc độ là một bộ phận của nhóm người yếu thế trong xã hội có những nội dung, tính chất đặc điểm cụ thé cần được bảo vệ: bàn luận nhiều về quyền bình đăng và cắm phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động việc làm, giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế, hôn nhân gia đình, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, khoa học và công nghệ. Trong đó, một số công trình cũng đã ít nhiều khai thác vấn đề về bảo vệ quyền của phụ nữ bằng pháp luật hình sự, trong một giai đoạn của TTHS, tập trung vào giai đoạn xét xử. [35]; [128]; [34]; [37]; [36]; [109]; [39] nhưng chưa hệ thống hóa các quy định pháp luật hay đưa ra được các biện pháp bảo vệ QCN của phụ nữ.
Như vậy, nghiên cứu về bảo vệ quyền con người của phụ nữ đưới góc độ pháp lý vẫn còn là khoảng trồng cần được bàn luận và xem xét thấu đáo. Nhóm công trình nghiên cứu về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự Từ góc độ bảo vệ QCN trong lĩnh vực tư pháp nói chung có nhiều công trình được công bố ở các cấp độ khoa học khác nhau từ sách chuyên khảo, luận án tiễn sỹ, nghiên cứu khoa học đến bài đăng tạp chí chuyên ngành. Những công trình 13 nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến các nội dung lý luận và thực trạng, quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường đảm bảo QCN trên các bình diện của lĩnh vực tư pháp như quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, quản lý và cải cách tư pháp, các cơ quan nhà nước trong hệ thống tư pháp của Việt Nam [54]; [114]; [8]; [60, tr. Trong đó có đề cập đến nội dung bảo vệ QCN trong lĩnh vực tư pháp hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế [50]; [2]; [39]; [111].
Liên quan đến QCN trong lĩnh vực TPHS phải kê đến 03 công trình tiêu biểu: Một là sách chuyên khảo do Nguyễn Ngọc Chí chủ biên[ 16] đã làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm QCN trong TPHS, cũng như các co chế bảo đảm QCN trong TPHS; tác phẩm nay còn dé cập đến tat ca những van đề lý luận và thực tiễn của QCN trong pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, trong đó đi sâu tìm hiểu QCN được thé hiện trong các quy định pháp luật trong lĩnh vực TPHS, dé từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Hai là cuốn chuyên khảo do trường Dai học Luật thành phố Hồ Chí Minh [111] biên soạn, tập hợp 18 công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chuyên gia về các nội dung liên quan đến những van dé chung về bảo vệ QCN bằng pháp luật trong lĩnh vực tô tụng hình sự Việt Nam, trong đó có đề cập đến các đối tượng là người bi tình nghi, bi can, bi cáo, người bị hại trong quá trình tham gia TTHS cũng như phân tích những van dé thực tiễn nhằm dé xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật. Trong các công trình này có bàn luận về các đối tượng trẻ em, người chưa thành niên nhưng chưa tác phẩm nào đề cập đến QCN của phụ nữ trong TPHS Việt Nam. Ba là cuốn chuyên khảo của tác giả Lê Lan Chi về bảo đảm quyền của nạn nhân tội phạm và một số nhóm yếu thế trong tư pháp hình sự bàn luận về các quy định pháp luật và hoạt động của người hành nghề luật trong bảo vệ quyền của phạm nhân nữ trong thi hành án phạt tù [13].
Các nội dung về bảo vệ QCN trong lĩnh vực TPHS được quan tâm nhiều hơn ở cấp độ bài viết trong các tạp chí khoa học chuyên ngành [9, tr. Trong từng ngành luật cụ thể, các công trình khoa học đề cập theo mức độ, phạm vi khác nhau như: Báo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự, đã có nhiều công trình trao đổi về bảo vệ QCN nói chung bằng pháp luật hình sự được công bố từ sách chuyên khảo, luận án tiến sỹ, các bài tham luận tại các hội thảo khoa học. Trong các công trình này, các tác giả nghiên cứu việc bảo vệ QCN qua đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm phạm QCN theo các tội danh được quy định trong BLHS Việt Nam [126]; [124]; [64, tr.