Chương I: Lý luận chung về quyền nhân thân của nhóm người để bị tin thương trong xế hội. Cñương 2: Quy đính cia pháp luật dân sư Việt Nam hiện hành về quyền nhân thân của nhóm người dễ bi tốn thương trong xã hội. Cineong 3- Thực tiễn thực hiên và bảo vệ quyển nhân thân của nhóm. người dé bị tổn thương trong xd hội.
Phương hướng va giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyển nhân thân của nhóm người dé bi tốn thương trong xã hội. TONG QUAN NGHIÊN CỨU Phan I MỞĐÀU Lich sử dan tộc Viết Nam là lịch sử bén nghĩn năm đựng nước và giữ nước, với biết bao cuộc đầu tranh chồng quân xâm lược. Vi vậy chúng ta hiểu rõ hơn ai hết gia tri của đốc lập, tự do, quyền sống và mưu cầu hanh phúc. Tư tưởng nhân quyển ở Việt Nam đã co từ rất lâu va được thể hiện trước hết qua những ý niệm và hành động khoan dung, nhân đạo.
Trong Binh Ngồ Đại Cáo của Nguyễn Trãi với tinh thân “Der đại ngiữa để thắng lung tàn, lấy chí nhân để thay cường bao” đã thé hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân quyền của Việt Nam. Bởi vây, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập 2 , Chủ tịch Hỗ Chỉ Minh đã bat đầu với một định đề triết học nhân văn dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyễn bình đẳng”. Sự tình đẳng của cá nhân được thể hiện trong việc hưởng quyển (trong đó có các quyền. nhân thân) và nghĩa vụ do pháp luật quy định luôn được xem 1a kim chỉ nam trong đường lôi lãnh đạo và chính sách phát triển của Đăng, Nha nước.
Trong những năm qua Đăng và Nhà nước ta đã rắt nỗ lực trong việc bão vệ và thúc dy nhân quyển trong pham vi quốc gia cũng như đã tham gia tích cực vao cuộc đầu tranh vi nhân quyền của nhân loại. Thể hiện ở việc Nha nước ta đã hình thành một hệ thống các văn bản phép luật tương đổi đây đũ vả khá tương thích với luật pháp quốc tế vé nhân quyển. Đảng thời cũng đã hình thảnh lên một cơ chế bảo dam quyển con người nói chung, quyền nhân thân của nhóm người dé bi tổn. thương nói riếng Quyên nhân thân của cả nhân được quy đính trong Bộ luật dân sự năm.
2005 trước đây và hiện nay là Bộ luật dân sự năm 2015 với nhiễu nhóm quyền. quan trọng với mục dich bảo vệ con người, coi con người là đối tượng trung tam, đối tượng cn được hướng tới và bao đầm thực hiện. Con người tự nhiên sinh ra vốn đa dang bởi sắc tộc, mau da, thé lực, trí lực, giới tính, độ tuổi. Chính sự tư nhiên nay cùng với sự tác đồng của các định kiến 2 hội, sự nhìn nhận phién diện của một bô phân người, sự ảnh hưỡng của phong tục, tập quán, 9 thói quen.
tên có một nhóm người trong sẽ hội ở vào “thé yêu” — họ là nhóm người dé bị tốn thương trong xd hội. Với cách hiểu trên, nhóm dé bị tổn thương có thể chia thành những loại như sau: những người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người tàn tất, người nhiễm HIV, dân di cư. Đây là những nhóm xã hội có khả năng chống đỡ, tự bao vệ thấp. nhất va thiệt hại đối với họ thường là cao nhất.
Với tình hình thực tế ỡ đất nước ta qua hơn ba thập kỉ đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trong trên các lính vực chính trị, kinh tế, văn hoa xã hội. Để đưa dat nước ta trở thành nước công nghiệp, xây dựng xã hội dan giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Bang, nha nước ta đặc biết chú trong đến việc phát huy vai trò và nâng cao vi thé của con người, xem con người 1a trung tâm của chiến lược phát triển. Tuy nhiên, do nhiên nguyên nhân khác nhau, trong xẽ hội vẫn còn tồn tại nhóm x4 hội dễ bi tn thương chưa được thụ hưởng nhiều những giá trì dân chủ công bang, bình đẳng trên moi lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội so với nhóm sã hội phổ biến khác. ‘et vé mặt kinh tế, việc xây dựng nên kinh tế thi trường dù ở bat cứ dang nào cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận ở chừng mực nhất định quy luật khất khe của thi trường.
Theo đó, quy luật của thi trường, khách hang la thương để có nghĩa la nó đáp ứng cho nhu cẩu của "khách hang " nhưng cũng có nghĩa là nó không đáp ửng cho nhu cầu của những người không có khả năng trở thảnh *khách hàng”. Thi trường là một cơ ché hữu hiệu để nâng cao số lượng va chất lượng của hang hóa thông thưởng nhưng nó tỏ ra kém hữu hiệu trong việc cùng ting “hang hóa công công” và những “hang hóa công công” nảy có vai tro đặc biệt quan trong đối với việc đáp ứng những năng lực cơ bản như chăm sóc sức khỏe sơ đẳng, cơ hội giáo dục cơ ban. “Hang hóa công công” trước hét đáp ứng nhu cầu chung của xã hội, cho cả nhóm thường và nhóm dé bị tổn thương nhưng nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nhóm dé bị tổn thương, bởi day chính là những yêu tổ cẩn thiết nhất để nâng cao năng lực cho nhóm dé bị tin thương để họ có thể chống đỡ vả phục hải. 10 ‘Xét về mặt chính trị, nhóm dé bi tốn thương hạn chế về khả năng tham gia để tiếng nói của minh được lắng nghe va những lợi ích cơ ban cia họ có thể được đây đủ hơn.
Mặt khác, họ cũng không có di nguồn lực để tham gia bởi những nguồn lực này tập trung cho sự tổn tại và chống đỡ tốn thương ma họ phải gảnh chiu ‘et về mất đạo lý xã hội, chuyển sang kinh tế thi trường ảnh hưởng nhất định đến những gia trị đạo lý truyền thông như nhân ai, dim bọc - vốn được xây dựng và cũng cổ bởi phép trí nước theo nhân nghĩa, dao đức. Kinh tế thị trường lây chuẩn vat chất lam đâu, kha năng sinh lời, sức manh của tién bạc đã lam zúi ‘mon ít nhiễu giá tri nhân văn, nhân bản. Nói một cách đơn giản, chúng ta có thé giàu hơn nhưng chúng ta cũng có thể tan ác hơn. Những nghiên cứu gan đây cho thấy có lẽ sự phát triển có nguy cơ thiểu bén vững bai chúng ta thiểu các nguồn vốn mới như.
vốn đạo đức, vân con người, von văn hóa, von xã hội. Tuy nhiên cũng như các nước khác trên thể giới, biện nay Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức về quyên con người, trong đó nổi bật lên van để về quyển của các nhóm người dé bị tin thương. Nhóm người dễ bị tổn thương la những nhỏm, cộng đồng có vị thể về chỉnh trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, tit đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bô quên hay bi vi phạm các quyển con người. Bai vậy cén chú ý bão vệ đặc biệt so với các nhóm khác.
Đặc biệt là trong bồi cảnh hiện đại, sự phát triển của zã hội loài người mang lại nhiễu thành tưu vẻ lánh tế, y tế, văn hóa xế hội. nhưng các quyền nhân thân của cả nhân nói chung vả nhóm người dễ bi tổn thương nói riêng vẫn bi xêm phạm va không được bảo vệ théa đáng với phạm vi khá phổ biển và tén suất không ngừng gia tăng, thêm chi tính mang va sức khỏe của nhóm người nay van thưởng xuyén bi đe doa, việc bao về nó tưỡng chừng như đơn giản, nhưng trên thực tế, sự vi phạm trong thời gian qua có thể nói la đang trên lan, trở thành mối lo cho xã hội. Hon thé, sự phát triển của xã hội loài người hướng đền sự phát triển toàn điện về vật chất va tinh thân, do vay, việc gia tăng sự quan tâm va bảo vệ nhóm dé bi ton thương chỉ đâu cho sự phát triển của nhân loại nói chung là mét yêu câu rất bức thiết hiển nay " “Nhóm người dé bị tốn thương” trong xã hội đường như 1a khái niệm con tương đổi mới mé trong pháp luật Việt Nam nên các quy đính của pháp luật và cơ chế bao vệ quyền của nhỏm người nay (trong đó có quyển nhân thân) còn. nhiễu hạn chế Hướng tối một 28 hôi công bằng, bình đẳng thi các quyển dân sự nói riêng, các quyển nhân thân nói chung phải được ghi nhân và dim bảo thực hiện một cách nghiêm chỉnh đối với mọi đối tương trong xã hội.
Do đó, việc nghiên cứu các vẫn để về quyển nhân thân của cả nhân nói chung, quyển nhân thân của nhóm người dé bi tốn thương nói riêng la van để mang tính cấp bách có 'ý nghĩa lý luận va thực tiễn lớn trong thời gian tới. Phan II CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CUU 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước A. Bài viết trên các tạp chỉ (1) International Journal of Constitutional Law “The promise of an emerging concept in European Human Rights Convention law” - International Journal of Constitutional Law, Volume 11, Issue 4 ,1 October 2013, Pages 1056-1085 ( Bai viết “Triển vong vỗ một iid niệm mới trong Công ube về Quyền con người của Liên minh Cl \Âu - Tạp chí Quéc tế về Luật Hiến pháp, Tap 11, Số 4, Ngày 1 tháng 10 năm 2013, Các trang 1056-1085) © Bài viết “Tr én vọng về một khái niệm mới trong Công woe về Quyên con người của Liên minh Châu Âu” được nghiên cứu dưới góc độ các đặc điểm và ý nghĩa của khái niệm vẻ các nhóm dé bi tổn thương.
Khai niệm về các nhóm dé bị tổn thương đang tăng lên trong luật pháp của Tòa án Nhân quyển. của Châu Âu. Toa án cho đến nay đã sử dung khái niệm nảy trong những trường hợp liên quan đến người Roma, những người có khuyết tật vẻ tâm thân, những, người bị HIV va người in i nạn, Dựa vào các cuộc tranh luận lý thuyết về tính i tổn thương cũng như về luật, về vụ kiện của Toà án, bai viết cùng cấp một đánh giá quan trong của khái niêm nảy. Ly luận về các nhóm dé bị tốn thương mé ra một sô kha năng, đáng chú ý nhất là cơ hội để tiền gan hơný tưởng manh.
2 mẽ vẻ sự bình đẳng. Tuy nhiên, khái niêm này cũng có một số hạn chế nhất định và bai viết nay bình luận vẻ cách sử dung, phân anh khái niệm này cũng như chỉ Ta cách thức mả Tòa án có thể tránh được những hạn chế của nó.