CHƯƠNG 1 CƠ SO LÝ LUẬN VÀ PHÁP LY VE TRỢ GIÚP PHÁP LÝ (TGPL) CHO NGƯỜI DONG TÍNH, SONG TÍNH, CHUYỂN GIỚI BAO DAM QUYEN TIẾP CAN CONG LÝ O VIỆT NAM HIEN NAY 1. Khái niệm, đặc điểm trợ giúp pháp lý cho người đồng tinh, song tính, chuyển giới đảm bảo quyền tiếp cận công lý 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý cho người đồng tính, song tinh, chuyển giới đảm bảo quyền tiếp cận công lý Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho những người cần được hỗ trợ theo quy định của Luật này, nhằm đóng góp vào việc dam bảo quyền của con người và quyền công dân trong việc tiếp cận hệ thống tư pháp và bao đảm sự bình dang trước pháp luật. Trợ giúp pháp lý cho người dong tinh, song tinh và chuyển giới là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho nhóm người này dé được hỗ trợ, nhằm đóng góp vào việc đảm bảo quyền của con người và quyền công dân trong việc tiếp cận hệ thống tư pháp và bảo đảm sự bình đăng trước pháp luật.
Trợ giúp pháp lý cho người đồng tính, song tính và chuyền giới hiện nay dang trở thành van đề được xã hội thu hút sự quan tâm va nha nước càng ngày mong muốn đặt ra những chuẩn tiếp cận đối với vấn đề này. Về cơ bản, người LGBT cũng là một trong những đối tượng có quyền tiếp cận pháp luật, cũng như trợ giúp pháp lý. Trong dịch vụ trợ giúp pháp lý thì nhóm đối tượng như trẻ em, người nghèo, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hay phụ nữ là người LGBT đều có thé được trợ giúp pháp lý miễn phí. Tuy nhiên, kha năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ trợ giúp pháp lý của cộng đồng LBGT đang gặp những hạn chế và khó khăn nhất định.
Đối trợng/chủ thé Về cơ sở lý luận và pháp lý về trợ giúp pháp lý cho người đồng tính, song tính và chuyển giới, vậy nên đối tượng được nói đến bao gồm người đồng tính, song tính và chuyền giới. Khái niệm người đồng tính Theo Hiệp hội tâm lý học Mỹ (APA), đồng tính không phải là một loại rỗi loạn tâm sinh lý, mà thay vào đó, nó được coi là một hiện tượng sinh học tự nhiên, được anh hưởng bởi sự tương tác phức tạp của yếu tố di truyền va môi trường tử cung trong giai đoạn thai kỳ sơ sinh. Các hành vi tình dục đồng giới và quan hệ tình cảm đồng giới được xem như một phần bình thường của cách mà con người đáp ứng các nhu cầu cơ bản về tình yêu, sự gắn kết và quan tâm. Các nghiên cứu, thong kê và điều tra trong lĩnh vực tâm thần học và nhỉ khoa đều đã chứng minh răng đồng tính không phải là một bệnh tâm thần, mà là một phần tự nhiên của đa dạng tình dục.
Những người có bản tính đồng tính không lựa chọn được cách họ là. Do vậy, có thể khẳng định lại rằng đồng tính không phải là giới tính thứ ba như suy nghĩ của nhiều người và cũng không phải là một trào lưu. Về khía cạnh sinh học, người đồng tính vẫn thuộc giới tính nam/nữ. Khái niệm người song tính Song tính là một khái niệm chung, bởi vì giữa mỗi người song tính khác nhau sẽ rất khác nhau.
Ví dụ, những người cảm thấy hấp dẫn bởi cả nam và nữ có thê không nhất thiết phải nhận dạng mình là song tính - họ có thể xem mình chủ yếu là đồng tính hoặc di tính, hoặc họ có thể lựa chọn không gắn bất cứ cái “nhãn” nào cả. Trong nhiều tình huống, một người có thê cảm thấy hấp dẫn đối với cả nam và nữ, nhưng có thể chỉ thực hiện quan hệ tình dục với một trong hai giới, hoặc hoàn toàn không tham gia vao quan hệ tinh 10 dục. Sự hấp dẫn không nhất thiết phải được cân đo, cảm xúc với hai giới tính không nhất thiết ngang nhau hoặc tồn tại trong cùng một thời điểm. Các nghiên cứu cho thấy hành vi song tính chiếm tới gần 1/3 trong số những người năng động tình dục.
Một vài nghiên cứu trên thế giới cho thấy người song tính chiếm tới gần 50% trong tổng số cộng đồng người LGBT. Với người đồng tính (và cả đối với người song tính khi thể hiện xu hướng đồng tính), họ phải đối mặt với hội chứng sợ đồng tính luyến ái (homophobia). Điều này có thê là hiểu như kết quả của sự đe dọa hoặc định kiến xã hội đối với người đồng tính, hoặc là sự tự loại trừ và lo sợ của chính họ. Nguyên nhân của điều này có thé do xuất phát từ niềm tin tôn giáo khi tôn giáo đó có thái độ phản đối hành vi đồng tính, do thiếu hiểu biết, thiếu những trải nghiệm tiếp xúc với người đồng tính hoặc do những cảm giác chủ quan mặc định việc căm ghét người đồng tính.
Hội chứng trên bao gồm chứng tự sợ đồng tính và chứng ghê sợ đồng tính. Công khai xu hướng tính dục của người đồng tính (và cả người song tính) là việc họ công khai vấn đề đồng tính với chính bản thân mình, với những người xung quanh hoặc gia nhập vào cộng đồng đồng tính. Hình thức công khai có thé là với tat cả mọi người hoặc với một số ít người. Công khai là một thử thách lớn đối với người đồng tính vì họ phải vượt qua được những trở ngại đến từ bản thân và xã hội: đối mặt với những nghi vấn về giới tính khác người của mình; chấp nhận thách thức từ những người có tâm lý ghê sợ đồng tính luyến ái trong xã hội, chấp nhận việc có thể bị bạo hành, ngược đãi, kỳ thị và đối xử bất công; đối diện với trách nhiệm, niềm kỳ vọng của gia đình về một người con bình thường như xã hội vẫn hiểu.
Khái niệm người chuyển giới Với người chuyền giới, tương tự như việc đồng tính từng bị xem là một van đề có thê chữa trị, chuyên giới cũng đã gan với các khái niệm như "bệnh II tâm thần," HH "rối loạn tâm thần," hoặc "rối loạn nhận dang gidi"[18]. Tuy nhiên, Á mức độ ky thị và sự phân biệt đối xử đối với người chuyên giới thường nặng hơn nhiều so với các cộng đồng đồng tính và song tính, vì họ thường bày tỏ sự khác biệt về giới ngay từ ngoại hình. Từng giai đoạn và hoàn cảnh trong cuộc đời của họ thường di kèm với những yếu tố khiến họ phải đối mặt với sự kỳ thị một cách trầm trọng hơn. Có hai hình dạng chính của người chuyền giới: người chuyên giới từ nam sang nữ (male to female) và người chuyên giới từ nữ sang nam (female to male).
Nếu xét từ góc độ tình dục, ta có thể phân thành ba loại: người chuyên giới đồng tính (vi dụ, người chuyên giới từ nam sang nữ và yêu người cùng giới), người chuyền giới song tính (vi dụ, người chuyên giới từ nam sang nữ và có khả năng yêu cả nam giới và nữ giới), và người chuyền giới di tính (ví dụ, người chuyền giới từ nữ sang nam và yêu người cùng giới). (1) Người chuyển giới được sinh ra với một giới tính sinh học đặc định (nam hoặc nữ), nhưng họ có cảm nhận và mong muốn về giới tính của mình khác với giới tính sinh học ban đầu. (2) Không cần thiết phải tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tinh dé được coi là người chuyền giới. Bất kỳ người nào có ý thức và mong muốn về giới tính khác với giới tính sinh học của họ cũng có thể được xem là người chuyên giới.
(3) Phần lớn trong số những người giả/cải trang, ví dụ như nam giới cải trang thành nữ giới hoặc ngược lại, thuộc vao nhóm người chuyền giới. Trong trường hợp một số người cải trang dé đáp ứng nhu cầu công việc hoặc giải tri, đa số trong họ cũng là người chuyên giới. Khi bị kỳ thị và phân biệt đối xử ngày càng nhiều, cảm giác bị cô lập và bị đặt sang một bên trong cộng đồng của họ trở nên mạnh hơn. Đặc biệt, trong trường hop của người chuyền giới nữ, họ thường tụ tập thành những nhóm 12 nhỏ bên trong cộng đồng của họ, tương tác và giao tiếp chủ yêu với nhau và ít tiếp xúc với người ngoài, bất ké họ là di tính hay đồng tính.
Các nhóm này thường tham gia các hoạt động tương trợ và hỗ trợ lẫn nhau (như tô chức budi hát đám ma hoặc biểu diễn nghệ thuật cùng nhau), và họ phát triển các cách riêng dé đối phó với sự kỳ thị. Đặc điểm trợ giúp pháp lý cho người đồng tính, song tinh, chuyén giới đảm bảo quyền tiếp cận công lý Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý: là các tổ chức trợ giúp pháp lý Nha nước và các tổ chức hành nghề luật sư, tô chức tư vấn pháp luật của các tổ chức chính trị xã hội, chính trị xã hội nghề nghiép. Như vậy, hoạt động trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động vừa có tính chất nhà nước, vừa mang tính chất xã hội. Người thực hiện trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 là Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên của Trung tâm TGPL nhà nước, luật sư, tư vấn viên pháp luật của các tô chức hành nghề luật sư, tô chức tư van pháp luật của các tô chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiép.
Đối tượng được trợ giúp pháp lý: là người đồng tính, song tính, chuyền giới đảm bảo quyền tiếp cận công lý. Lĩnh vực trợ giúp pháp lý: Tất cả các vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý (người LGBT) trong hầu hết các lĩnh vực pháp luật, trừ các vụ việc có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Hình thức trợ giúp pháp lý: bao gồm: Tư vẫn pháp luật, tham gia tổ tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải và hướng dẫn thủ tục hành chính, khiếu nại. Trợ giúp pháp lý là một dịch vụ pháp lý đặc biệt, dịch vụ công thiết yếu hiện nay.
Mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý là nhằm giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần bảo vệ công lý, 13 bảo đảm công băng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật góp phần bảo đảm cho mọi công dân đều bình đăng trước pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Đúng vậy, hoạt động trợ giúp pháp lý đặt trong xu hướng phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam hiện nay.