MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Quyền sống (the right to life) là một quyền tự nhiên, cơ bản của con ngƣời đƣợc ghi nhận trong các văn kiện cốt lõi của luật nhân quyền quốc tế. Cụ thể, Điều 3 Tuyên ngôn Toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) năm 1948 nêu rằng: “Mọi ngƣời đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân”. Điều 6 Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) cụ thể hóa Điều 3 UDHR, trong đó nêu rằng: “Mọi ngƣời đều có quyền cố hữu là đƣợc sống.
Quyền này phải đƣợc pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tƣớc mạng sống một cách tuỳ tiện” (Khoản 1). Để bổ sung hơn nữa những quy định về quyền sống tại UDHR và ICCPR, Liên Hợp quốc cũng ban hành Nghị định thƣ tùy chọn thứ 2 của ICCPR nhằm mục tiêu bãi bỏ hình phạt tử hình. Nghị định thƣ này đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải từ bỏ ngay lập tức hình phạt tử hình (cả trên phƣơng diện pháp lý lẫn thực tiễn thi hành).
Vì vậy có thể nói quyền sống và hình phạt tử hình có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong cả phƣơng diện lý luận lẫn thực tiễn. Hình phạt tử hình là một trong những khái niệm nổi tiếng, dễ nhận biết nhất trong pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Có thể nói rằng, tử hình là hình thức trừng phạt nghiêm khắc nhất dành cho những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại, hình phạt tử hình đã đƣợc áp dụng ngay từ buổi sơ khai hình thành hệ thống nhà nƣớc và pháp luật.
Hiện nay, hình phạt tử hình vẫn đƣợc áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới bất kể trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Bởi tính nghiêm trọng của hình phạt tử hình nên khi tuyên hình phạt này, hệ thống pháp luật các nƣớc thƣờng chứng minh bị cáo đã phạm một tội không thể khắc phục hậu quả và việc giáo dục ngƣời đó là vô ích. Đồng thời 1 hệ thống pháp luật cũng cân nhắc nghiêm túc khả năng ân xá ngƣời bị tuyên án tử hình hoặc kéo dài thời gian chờ thi hành án nhằm chắc chắn bản án tử hình là “đúng ngƣời đúng tội” và loại bỏ oan sai. Nhiều năm qua, hình phạt tử hình là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận trên phạm vi quốc tế.
Cuộc tranh luận chủ yếu xoay quanh hai luồng quan điểm bãi bỏ hoặc tiếp tục duy trì hình phạt tử hình. Câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra là: Liệu hình phạt tử hình là sự tƣớc đoạt mạng sống cần thiết? Dù còn nhiều tranh cãi nhƣng có thể thấy xu hƣớng chung của thế giới là giảm dần và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trong tƣơng lai. Đối với những quốc gia chƣa có kế hoạch loại bỏ án tử hình trong tƣơng lai gần thì có xu hƣớng chuyển đổi hình phạt tử hình theo hƣớng thi hành án một cách nhân đạo hơn. Nhƣ đã đề cập ở trên, vấn đề về quyền sống và hình phạt tử hình đƣợc quy định tại Công ƣớc các quyền dân sự chính trị (ICCPR 1966) và Nghị định thƣ tùy chọn thứ 2 của Công ƣớc ICCPR 1966.
Cụ thể hơn, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp quốc (The UN Commission on Human Rights – UNHCR) và sau này là Hội đồng Quyền con ngƣời Liên Hợp quốc (The United Nations Human Rights Council UNHRC) đã đƣa ra rất nhiều giải thích thông qua các khuyến nghị và bình luận chung nhằm chỉ rõ giới hạn cho một hành vi sẽ bị tuyên án tử hình. Theo các giải thích đó, phạm vi của một hành vi bị tuyên án tử hình là rất hẹp. Thậm chí có thể nói, thông qua Nghị định thƣ tùy chọn thứ 2 của Công ƣớc ICCPR 1966, Liên Hợp quốc đang dần khuyến khích các quốc gia bãi bỏ hình phạt tử hình trong hệ thống pháp luật của mình. Việc bãi bỏ hình phạt tử hình đang trở thành xu thế khi có đến 89 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia văn kiện pháp lý quốc tế kể trên.
Không nằm ngoài xu thế, những năm gần đây, Việt Nam tiến hành pháp điển hóa pháp luật hình sự theo xu hƣớng giảm dần hình phạt tử hình 2 trên số lƣợng tuyệt đối và tƣơng đối so với các tội phạm và hình phạt đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS). Nhìn chung, cải cách pháp luật hình sự theo hƣớng giảm bớt hình phạt tử hình là chủ trƣơng lớn của Đảng. Cụ thể, tại Nghị quyết số 49/NQ-TW, Phần II (Phƣơng hƣớng và nhiệm vụ cải cách tƣ pháp) có đoạn: “Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.] Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hương chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [.
Với xu hƣớng kể trên, Việt Nam có khả năng tiếp tục giảm hình phạt tử hình hoặc thậm chí tiến tới xóa bỏ hình phạt này trong tƣơng lai nhằm thực hiện một cách hoàn toàn quyền sống đúng theo quy định của pháp luật quốc tế, cụ thể theo các quy định tại Điều 3 UDHR và Điều 6 ICCPR. Tuy vậy, vẫn còn nhiều khó khăn và rào cản thách thức Việt Nam hiện thực hóa xu thế trên. Tác giả lựa chọn đề tài “Quyền sống và hình phạt tử hình trong pháp luật Việt Nam” nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền sống, hình phạt tử hình và mối liên hệ của chúng với nhau. Đồng thời đƣa ra một số khó khăn trong quá trình giảm hình phạt tử hình tại Việt Nam.
Cuối cùng, đƣa ra giải pháp tháo gỡ những khó khăn đó. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Mục đích của luận văn là nghiên cứu về quyền sống của con ngƣời, xu hƣớng giảm hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự Việt Nam và sự tƣơng thích của xu hƣớng này với luật nhân quyền quốc tế. Cùng với đó, luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn xu hƣớng này trong luật tố tụng và thi hành án hình 3 sự.
Từ những kết quả nghiên cứu trên, tác giả đƣa ra những hạn chế, thiếu sót và khó khăn trong việc giảm hình phạt từ hình. Ngoài ra, luận văn còn chỉ ra sự thiếu tƣơng thích giữa pháp luật Việt Nam và luật nhân quyền quốc tế về hình phạt tử hình. Cuối cùng, luận văn đƣa ra giải pháp, kiến nghị nhằm tiếp tục xu hƣớng giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trên luật cũng nhƣ thực tiễn xét xử, để từ đó giúp pháp luật Việt Nam dần tƣơng thích với luật nhân quyền quốc tế. Mục tiêu cụ thể Để đạt đƣợc mục tiêu tổng quát nhƣ trên, tác giả xác định một số mục tiêu cụ thể nhƣ sau: - Đƣa ra các quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam về quyền sống của con ngƣời.
- Xác định hệ thống quan điểm, mục tiêu, chính sách của Đảng, nhà nƣớc ta về xu hƣớng giảm quy định hình phạt tử hình trong quá trình pháp điển hóa Bộ luật hình sự Việt Nam phù hợp với luật pháp nhân quyền quốc tế; - Chỉ ra nhu cầu thực tế và những thách thức pháp lý với xu hƣớng giảm hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Đặt những thách thức đó trong bối cảnh luật nhân quyền quốc tế; - So sánh, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về xu hƣớng giảm và tiến tới xóa bỏ hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự của một số quốc gia khác; - Nhân diện khung pháp lý về quyền đƣợc sống nói chung và vấn đề hình phạt tử hình nói riêng trong luật quốc tế. Từ đó lý giải xu hƣớng giảm quy định hình phạt tử hình trong quá trình pháp điển hóa Bộ luật hình sự Việt Nam; - Chỉ ra đƣợc nguyên nhân, bản chất và những tác động tiêu cực của các rào cản pháp lý đối với việc giảm thiểu hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự Việt Nam; - Xác định đƣợc phƣơng hƣớng, mục tiêu và các giải pháp trƣớc mắt, 4 lâu dài có tính khả thi, toàn diện để tháo gỡ các rào cản pháp lý về việc giảm hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của luật nhân quyền quốc tế; - Đề xuất giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn vƣớng mắc và đảm bảo thực thi hiệu quả các chính sách của Đảng, quy định của pháp luật về hạn chế hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu - Quyền sống trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. - Lý luận và thực tiễn pháp luật nói chung về hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam; - Xu hƣớng giảm quy định trên luật và giảm thi hành trên thực tế đối với hình phạt tử hình tại Việt Nam; - Những quy định và cách giải thích của luật quốc tế về quyền sống và hình phạt tử hình. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Nội dung luận văn thực hiện trong không gian nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Phạm vi thời gian: Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả nghiên cứu Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 có hiệu lực từ năm 2000 đến năm 2018, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực từ năm 2018 đến nay.
Tình hình nghiên cứu Qua nghiên cứu bƣớc đầu, đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu về quyền sống hoặc hình phạt tử hình nói chung hoặc xu hƣớng giảm hình phạt tử hình nói riêng tại Việt Nam. Một số công trình tiêu biểu phải kể đến nhƣ: - Hội Luật gia Việt Nam (2018), Hình phạt tử hình trong Luật Quốc tế, NXB Hồng Đức; 5 - Trịnh Quốc Toản & Vũ Công Giao (2015), Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013, NXB Hồng Đức; - Ehrlich & Isaac (1975), The Deterrent Effect of Capital Punishment: A Question of Life and Death, The American Economic Review 65, no.3 - Dezhbakhsh, Hashem, Paul H. Shepherd (2003), Does Capital Punishment Have a Deterrent Effect? New Evidence from Postmoratorium Panel Data, American Law and Economics Review 5, no.