Chương 1 KHÁI QUAT CHUNG VE BẢO VỆ QUYEN CON NGƯỜI BANG CHE ĐỊNH LON VE TOI PHAM TRONG PHAN CHUNG LUAT HINH SU 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của bảo vệ quyền con người bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung luật hình sự 1. Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng chế định lớn về tội phạm trong Phân chung luật hình sự Khai niệm QCN, bảo vệ QCN Năm 1945, sau khi Liên Hợp Quốc được thành lập thì đã có rất nhiều văn kiện quốc tế ghi nhận về QCN. Các quy định này đã trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu được các quốc gia trên thế giới cam kết tôn trọng và nội luật hóa vào pháp luật quốc gia dé thực thi QCN trên thực tiễn, trong đó có Việt Nam.
Trên thế giới, khái niệm QCN là một phạm trù có nhiều định nghĩa khác nhau, cách định nghĩa phụ thuộc vào sự nhìn nhận của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, một trong những định nghĩa về nhân quyền được sử dung phổ biến là của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN: “QCN là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legzl quarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tốn hại đến nhân phâm, những sự được phép (entitlements) va tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [21, tr. Ở Việt Nam, khái niệm QCN đã được nhiều chuyên gia đề cập đến, với những quan điểm, phương điện không hoan toàn giống nhau nhưng đều được nhắc đến với cách hiểu “QCN là những nhu cầu lợi ích tự nhiên vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [21, tr. Xét về mặt ngôn ngữ hoc, cum từ "nhân quyền" (theo nghĩa Hán - Việt) chính là "QCN" (theo nghĩa thuần Việt) và trong tiếng Anh đều được gọi chung là "human rights" [48, tr.
Như vậy, theo Đại Từ điển tiếng Việt QCN và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa [21, tr. Cũng như ở các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, QCN trước hết được ghi nhận và bảo đảm trong Hiến pháp. Bởi vậy, nghiên cứu chế định về QCN trong các bản Hiến pháp Việt Nam có thể khái quát được khá tổng thé về sự phát triển của tư tưởng và pháp luật về QCN. Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bô sung đã kế thừa tinh thần về QCN của Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bố sung năm 2001 và có những sự đột phá trong ghi nhận về QCN.
Với những phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm QCN là nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có cho mỗi người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và được thừa nhận cũng như bảo đảm thực hiện, bảo vệ bởi pháp luật quốc gia. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” là "chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn" [32, tr. Xuất phát từ nghĩa của thuật ngữ “bảo vệ” và những đặc trưng của QCN cho thấy nội dung cơ bản của bảo vệ QCN là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm dé giữ gin cho tat ca mọi người trong xã hội được an toan va đầy đủ. Bảo vệ QCN hiện nay được thực hiện thông qua ba cơ chế đó là: Cơ chế quốc gia; Cơ chế khu vực và Cơ chế quốc tế.
Trong đó, cơ chế quốc tế và cơ chế khu vực có tầm ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế quốc gia, đặc biệt đối với các quốc gia tham gia công ước, điều ước quốc tế về bảo vệ QCN [2I, tr. Như vậy, nghĩa vụ bảo vệ QCN của mỗi nhà nước được coi là một nghĩa vụ chủ động vì để phòng ngừa, xử lý sự vi phạm QCN, mỗi quốc gia phải đưa ra những phương pháp, quy định các cơ chế phòng ngừa, xử lý vi phạm pháp luật, tội phạm xâm phạm QCN. Trong ba cơ chế bảo vệ QCN nêu trên, cơ chế quốc gia có vai trò quan trọng nhất, được chứng minh bằng lịch sử lâu đời và có hiệu quả cao trong thực tiễn. Bởi chính pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi đất nước là cơ sở, tiền để để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ QCN thê hiện rõ nét bộ máy nhà nước, cơ chê thực hiện vận hành bộ máy.
Việc tiến hành nhiệm vụ bảo vệ QCN yêu cầu mỗi quốc gia cần xây dựng một hệ thong pháp luật thể hiện trên các phương diện sau: Một là, bảo vệ chủ thể và quyền của chủ thể được bảo vệ; Hai là, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm QCN; Ba là, khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm. Trên cơ sở khái niệm về QCN và những phân tích nêu trên, bảo vệ QCN có thể hiểu là toàn bộ các hoạt động phát hiện, ngăn ngừa và xử lý những hành vi vi phạm QCN nhằm khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của người đã bị xâm hại, hạn chế hoặc tước bỏ bởi hành vi vi phạm pháp luật về QCN do các chủ thể có thâm quyền thực hiện. Khái niệm chế định lớn về tội phạm Trong pháp luật hình sự có các chế định được coi là lớn như chế định Đạo luật hình sự (1) — Tội phạm (2) — Những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi (3) — Trách nhiệm hình sự (4) — Các biện pháp cưỡng chế hình sự (5) — Quyết định hình phạt ( 6) — Các biện pháp tha miễn ( 7) — Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội ( 8) — Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội (9). Trong đó, chế định lớn về Tội phạm ngoài việc trùng với tên gọi tại Chương HI của Bộ luật hình sự, thi trong Chương III (Tội phạm) còn chứa đựng một loạt các chế định nhỏ như phân loại tội phạm, nhiều (đa) tội phạm, lỗi hình sự, các giai đoạn thực hiện tội phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm và đồng phạm.
Như vậy, có thé đưa ra khái niệm như sau: "Chế định lớn về tội phạm trong khoa học luật hình sự là chế định mà chứa đựng trong lòng nó (thuộc nó) các chế định nhỏ hon như phân loại tội phạm, nhiều (da) tội phạm, lỗi hình sự, các giai đoạn thực hiện toi phạm, tự ý nứa chừng cham dứt tội phạm và đồng phạm". 10 Khải niệm bảo vệ QCN bằng chế định lớn về tội phạm trong phan chung BLHS Bao vệ QCN bang pháp luật là sử dung pháp luật như một công cụ (phương tiện) để ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm hại QCN, nhăm bảo đảm QCN được tôn trọng. Chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS là chế định quan trọng trong pháp luật hình sự mà Nhà nước sử dụng để bảo vệ QCN, do đó, hoạt động bảo vệ QCN bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS không nằm ngoài cách hiểu chung như vậy. Từ những phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm: “Bảo vệ quyén con người bằng chế định lớn vẻ tội phạm trong Phan chung LHS là tập hợp các quy phạm pháp luật trong Phan chung của LHS do Nhà nước ban hành, bao gốm khái niệm và các chế định nhỏ có liên quan thuộc chế định lớn về tội phạm như phân loại tội phạm, nhiễu (da) toi phạm, lỗi hình sự, các giai đoạn thực hiện tội phạm, tự ý nửa chừng cham dứt tội phạm và đồng phạm, nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống toi phạm, bảo vệ các quyên và tự do của con người tránh khỏi sự xâm hại của những hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm ”.
Các đặc điểm cơ bản của việc bảo vệ quyền con người bằng chế định lớn về tội phạm trong Phan chung luật hình sự Xuất phát từ khái niệm bảo vệ quyền con người bằng chế định lớn về tội phạm trong Phan chung LHS, có thé rút ra một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất về đối tượng được bảo vệ băng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS đó chính là QCN. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của quốc gia quy định những quyền cơ bản của con người được Nhà nước bảo vệ, tránh mọi hành vi xâm phạm. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các QCN, quyén công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [13, tr. Cụ II thé hóa các quy phạm của Hiến pháp năm 2013, BLHS ghi nhận những biện pháp, hình phạt nghiêm khắc đối với các trường hợp xâm phạm các QCN.
Trong đó, chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS là một chế định quan trọng trong việc xây dựng và áp dụng các chế định khác trong LHS, là cơ sở pháp lý quan trọng trong thực thi LHS góp phần bảo vệ QCN. Chính vi vậy, nội dung các QCN cần được bảo vệ thông qua chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS chính là tổng hợp những QCN cần được bảo vệ bằng BLHS. Bao gồm quyền sống, tự do và an toàn cá nhân, quyền được bình đăng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ khỏi bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, quyền được suy đoán vô tội khi tội phạm chưa được chứng minh, quyền được hưởng sự nhân đạo trong luật hình sự,. Thứ hai, về phương thức bảo vệ, bảo vệ QCN bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS được thực hiện băng việc phi nhận đầy đủ về mặt lập pháp các quy định về tội phạm, bảo đảm các quy định phủ hợp với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về QCN trong luật hình sự, là cơ sở bảo đảm thực thi một cách chính xác trong thực tiễn áp dụng luật hình sự.
Thứ ba, chủ thể được bảo vệ các QCN trước hết là con người, con người ở đây là cá nhân cụ thé, cũng như các quyền cơ bản của họ đã được luật định, trước hết là các lợi ích về nhân thân của họ như tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm. Việc xây dựng và áp dụng luật hình sự trong thực tiễn đời sống vì mục tiêu đảm bao đảm đời sống ổn định, an toàn, phát huy QCN. Chính vì vậy, bằng chế định lớn về tội phạm trong phần chung BLHS góp phan cụ thé hóa nội dung bảo vệ QCN, là cơ sở pháp lý dé mỗi cơ quan, tô chức cá nhân tuân thủ và thực thi trong đời sống.