Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM 1. Khái niệm bảo vệ quyền của người bị tạm giam 1.1 Khái niệm quyền con người, bảo vệ quyền con người * Khái niệm quyền con người. Quyền con người là một phạm trù đa diện, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, song chưa có định nghĩa nào là bao hàm được toàn diện các đặc điểm, thuộc tính về quyền con người, vì nó phụ thuộc rất nhiều vào những góc độ tiếp cận khác nhau, vào sự nhìn nhận chủ quan của tác giả. Dù vậy, nhận thức phổ biến trên thế giới cho rằng quyền con người là một giá trị mang tính tự nhiên, vốn có của tất cả mọi người, vì thế không một lực lượng hay thế lực nào có thể tuỳ tiện chà đạp, tước bỏ, vi phạm.
Khái niệm quyền con người đã được đề cập từ lâu trong lịch sử nhân loại, song chỉ đến khi cách mạng tư sản nổ ra thắng lợi thì quyền con người mới được thừa nhận trong pháp luật. Minh chứng là sự ra đời của Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và Dân quyền Pháp 1789 đã nêu rõ các quyền con người là tự nhiên và thuộc về tất cả mọi người. Ở Việt Nam, Bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố ngày 02/09/1945 đã khẳng định đanh thép: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, đó là quyền sống, quyền tự do và quyền mư cầu hạnh phúc…”. Tuyên ngôn đã thể hiện sâu sắc những giá trị của quyền con người và khẳng định quyền con người, quyền công dân gắn liền với quyền độc lập dân tộc.
7 Luan van Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Quyền con người là những đặc tính từ khi sinh ra con người đương nhiên được hưởng tùy thuộc vào sự phát triển về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội nhất định và được pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện. * Khái niệm bảo vệ quyền con người. Khoa học pháp lý đã chia quyền con người thành các nhóm theo các lĩnh vực hoạt động của đời sống con người như: Nhóm quyền tự do dân chủ về chính trị; nhóm quyền dân sự (quyền tự do cá nhân); nhóm các quyền về kinh tế, xã hội. Ngoài ra, còn có các nhóm đặc thù về quyền phát triển; quyền được sống trong hòa bình và môi trường trong sạch.
Cho dù quyền con người là bẩm sinh, vốn có, nhưng trong xã hội các quyền con người sẽ không được bảo đảm thực hiện nếu không có hệ thống pháp luật. Tùy thuộc vào thể chế chính trị, sự phát triển kinh tế, xã hội, phong tục tập quán. mà mỗi quốc gia sẽ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp nhằm mục đích bảo đảm cho quyền con người được thực hiện, là công cụ, phương tiện để bảo vệ quyền con người. Quyền con người không thể chỉ được bảo vệ, bảo đảm bằng các quy phạm đạo đức mà phải trở thành những quy tắc xử sự chung cho toàn xã hội, có hiệu lực bắt buộc phải thực hiện và có tính thống nhất.
Chỉ khi pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện thì quyền con người mới được bảo vệ. Theo đó, pháp luật quy định những điều cấm và những điều bắt buộc phải thực hiện nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền con người, ở đó có quy tắc xử sự chung mà mọi chủ thể phải thực hiện cùng với các chế tài, biện pháp cưỡng chế với các hành vi xâm phạm đến quyền con người. Khi quyền con người được ghi nhận bằng các quy định pháp luật và có các cơ chế bảo đảm thực hiện trong thực tế, tạo thành đảm bảo pháp lý cho thực hiện quyền con người thì đó chính là quá trình nhằm mục đích bảo vệ quyền con người. 8 Luan van Từ những phân tích trên, có thể hiểu: bảo vệ quyền con người chính là việc Nhà nước xây dựng hệ thống pháp luật ghi nhận quyền con người, đồng thời quy định những biện pháp ngăn ngừa, những chế tàixử lý các hành vi vi phạm quyền con người và giao quyền cho bộ máy cưỡng chế của mình thực hiện.
Khái niệm người bị tạm giam và bảo vệ quyền của người bị tạm giam * Khái niệm người bị tạm giam. Tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, được quy định trong BLTTHS. Đây là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, có tính cưỡng chế cao. Mục đích của tạm giam là ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Biện pháp cưỡng chế này sẽ hạn chế một số quyền con người, bắt buộc người bị áp dụng biện pháp tạm giam nghiêm chỉnh chấp hành các quy định về tạm giam và các biện pháp bảo đảm thực hiện quy định đó. Người bị tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo, nhưng không phải bất cứ bị can, bị cáo nào cũng là người bị tạm giam. Tạm giam nhằm mục đích ngăn chặn bị can, bị cáo phạm tội mới, bỏ trốn, cản trở hoạt động điều tra., do vậy nếu một người chưa bị khởi tố bị can thì không được áp dụng biện pháp tạm giam. Và cũng không phải bị can, bị cáo nào cũng bị áp dụng biện pháp tạm giam.
BLTTHS quy định các trường hợp được áp dụng biện pháp tạm giam và các trường hợp không được áp dụng biện pháp tạm giam tại Điều 119 (BLTTHS 2015). Theo đó, biện pháp tạm giam áp dụng đối với bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà bộ luật quy định hình phạt đối với tội đó là trên hai năm tù và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội, không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch, đã bị áp dụng biện pháp 9 Luan van ngăn chặn khác nhưng vi phạm. Tạm giam còn có thể được áp dụng đối với người bị bắt theo lệnh truy nã vì chỉ khi đang là bị can, bị cáo hoặc người đang chấp hành án bỏ trốn thì họ mới bị truy nã. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định một số trường hợp không áp dụng biện pháp tạm giam, đó là: đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú hoặc lý lịch rõ ràng thì không tạm giam.
Trừ trường hợp bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã, tiếp tục phạm tội. Đối với người dưới 18 tuổi cũng hạn chế áp dụng biện pháp tạm giam và phải bảo đảm tuân thủ quy định tại Điều 419 BLTTHS hiện hành. Từ những sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm người bị tạm giam như sau: Người bị tạm giam là bị can, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định trong BLHS, hoặc thực hiện tội phạm nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định có khung hình phạt trên hai năm tù khi có căn cứ xác định họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 119 khoản 2 BLTTHS 2015. Tạm giam bị can, bị cáo phải có lệnh của các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền và phải tuân thủ các quy định của BLTTHS.
* Bảo vệ quyền của người bị tạm giam. Như đã phân tích, người bị tạm giam là bị can, bị cáo trong vụ án hình sự. Họ là đối tượng đang bị điều tra và có khả năng rất cao là chịu TNHS thông qua hình phạt quy định trong BLHS, nhưng Nhà nước vẫn phải bảo đảm cho họ những quyền cơ bản nhất như quyền không bị tra tấn, đánh đập, dùng nhục hình khi bị tạm giam, quyền được tôn trọng về nhân phẩm, quyền được điều tra khách quan. 10 Luan van Cũng như quyền con người, quyền của người bị tạm giam được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện.
Pháp luật TTHS là công cụ giúp nhà nước bảo vệ quyền của người bị tạm giam, đồng thời chi phối hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Pháp luật TTHS quy định về nội dung các quyền mà người bị tạm giam được hưởng, trình tự, thủ tục thực hiện các quyền và cơ chế pháp lý để bảo đảm quyền con người trong TTHS nói chung và quyền của người bị tạm giam nói riêng. TTHS quy định cho đối tượng này được hưởng cả các quyền dân sự, chính trị, chỉ bị hạn chế một số quyền, vì dù trong hoàn cảnh nào thì danh dự nhân phẩm của con người cũng cần được tôn trọng, đó cũng là hành lang bảo vệ quyền của người bị tạm giam khỏi sự tùy tiện, lạm quyền của các cơ quan và cá nhân được giao nhiệm vụ. Như vậy, từ những phân tích ở trên, có thể hiểu: Bảo vệ quyền của người bị tạm giam là việc pháp luật ghi nhận những quyền của bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đồng thời quy định những trình tự, thủ tục nhằm bảo đảm cho các quyền đó không bị xâm phạm bởi sự tùy tiện hoặc sự lạm quyền của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự.
Khái quát về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ quyền con người 1. Khái quát về Viện kiểm sát nhân dân Theo Hiến pháp năm 2013, VKSND nằm trong bộ máy nhà nước Việt Nam, là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. VKSND có tổ chức bộ máy, nguyên tắc hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn… được quy định trong Luật tổ chức VKSND năm 2014 và một số văn bản pháp luật chuyên ngành. 11 Luan van Hệ thống VKSND là có tính thống nhất, bao gồm VKSND tối cao, VKSND cấp cao, VKSND địa phương (VKSND cấp tỉnh và VKSND cấp huyện); VKS quân sự Trung ương, VKS quân sự cấp quân khu, quân chủng, Bộ đội biên phòng; các VKS quân sự cấp khu vực.
VKSND do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng VKSND cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cấp trên; Viện trưởng VKSND các địa phương, Viện trưởng VKSND quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao.