Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ ĐỜI TƯ 1. Khái niệm đời tư và quyền được bảo vệ đời tư 1. Đời tư Đời tƣ cá nhân hiện là một chủ đề nóng trên các diễn đàn xã hội, pháp lý. Thông thƣờng, đời tƣ đƣợc hiểu là cuộc sống riêng của mỗi ngƣời.
Từ điển Black Law Dictionary (tái bản lần thứ 9) giải thích khái niệm đời tƣ nhƣ sau: “Đời tư là điều kiện hoặc tình trạng được tự do trước sự xâm phạm hoặc can thiệp tùy tiện vào hành động hoặc suy nghĩ của mình” [2938, tr. Tác giả Worfgang Benedek, trong tác phẩm Tìm hiểu quyền con ngƣời (Understanding Human Rights) cho rằng: “Đời tư (Latin: privates) có nghĩa là tách biệt với những thứ còn lại) chỉ rõ rằng một người có thể tách biệt bản thân cô ta/anh ta khỏi những người khác, cũng như bộc lộ bản thân mình” [2837, tr. Trong Luận án tiến sĩ với đề tài “Quyền bí mật đời tư trong pháp luật dân sự Việt Nam”, tác giả Lê Đình Nghị cũng đƣa ra cách hiểu của bản thân về khái niệm đời tƣ. Tác giả đã đặt khái niệm đời tƣ trong mối liên hệ với thông tin và cho rằng thông tin liên quan đến đời tƣ là những thông tin về một cá nhân cụ thể, đó là những gì thầm kín của cá nhân mà họ giữ bí mật, ví dụ nhƣ các yếu tố tinh thần, vật chất, các quan hệ xã hội.
Tác giả nhấn mạnh rằng, cá nhân có thể sinh hoạt theo sở thích trong một môi trƣờng, không gian của mình, tự do lựa chọn cách sống, cách sinh hoạt, ăn mặc… đó là sự riêng tƣ. Thói quen, phong tục, tập quán và pháp luật… là các yếu tố theo tác giả có ảnh hƣởng tới đời tƣ cá nhân. Tác giả lý giải rằng con ngƣời sống trong cộng đồng với vô vàn các quan hệ xã hội đƣợc thiết lập với các chủ thể khác, ở đó ngoài lợi ích cá nhân còn có lợi ích chung của cộng đồng, để tồn tại và phát triển đƣợc thì con ngƣời phải dung hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng. Thông thƣờng, lợi ích chung thể hiện dƣới dạng phong tục, tập quán và pháp luật [16[18, tr.
Có nhiều hạt nhân hợp lý trong lý thuyết mà tác giả Lê Đình Nghị đƣa ra, song nếu chỉ xem xét đời tƣ dƣới góc độc thông tin nhƣ tác giả đề cập thì không thể 6 z bao quát đƣợc hết đƣợc ngoại diên của khái niệm này. Đời tƣ là khái niệm nhấn mạnh sự tự do trong suy nghĩ cũng nhƣ hành động của một cá nhân không chỉ đơn thuần là về thông tin nhƣ quan điểm của tác giả. Con ngƣời qua hoạt động thực tiễn của mình sẽ để lại các dấu ấn cá nhân, đó là các thông tin về ngƣời đó, pháp luật bảo vệ hoặc không bảo vệ những thông tin đó chứ không thể điều chỉnh tới suy nghĩ của mỗi cá nhân. Về cơ bản, các lĩnh vực thuộc về đời tƣ gồm có: - Một là, sự riêng tƣ về thông tin cá nhân nhƣ: Thông tin tín dụng, hồ sơ y tế và các hồ sơ của chính quyền lƣu trữ về công dân hay còn gọi là “bảo vệ dữ liệu”.
- Hai là, sự riêng tƣ về cơ thể: Liên quan đến việc bảo vệ thân thể của ngƣời dân đối với các hình thức xâm hại nhƣ: xét nghiệm di truyền, thử nghiệm ma túy và thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể; - Ba là, sự riêng tƣ về thông tin liên lạc: Bao gồm bảo mật và sự riêng tƣ về thƣ từ, bƣu phẩm, điện thoại, thƣ điện tử và các hình thức truyền thông khác; - Bốn là, sự riêng tƣ về nơi cƣ trú: Liên quan đến việc ban hành các giới hạn đối với sự xâm nhập vào môi trƣờng sống của cá nhân, nơi làm việc hoặc không gian công cộng. Điều này bao gồm tìm kiếm thông tin, theo dõi bằng video và kiểm tra giấy tờ tùy thân [4[6]. Tóm lại, từ những phân tích nêu trên có thể thấy khái niệm đời tƣ có các đặc điểm sau: - Đời tƣ là vấn đề gắn với cá nhân con ngƣời, trong không gian rộng, không chỉ ở nhà mà còn có thể ở những địa điểm khác; - Sự tự chủ của cá nhân là yếu tố quan trọng thuộc về đời tƣ, khẳng định giá trị và sự tự do của cá nhân, cả trong suy nghĩ cũng nhƣ hành động; - Đời tƣ cá nhân đƣợc pháp luật bảo vệ nhƣng trong một số trƣờng hợp bị giới hạn theo luật định; 1. Quyền được bảo vệ đời tư (Rights to privacy) Khái niệm quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ, hay quyền về đời tƣ, quyền riêng tƣ, đã đƣợc đề cập và thảo luận từ khá lâu trƣớc khi nó đƣợc chính thức công 7 z nhận là một quyền cơ bản trong các điều ƣớc quốc tế cũng nhƣ trong Hiến pháp của các quốc gia.
Theo một tác giả: “Từ nội dung ban đầu là bảo vệ tính mạng con người, quyền sống phát triển thành các quyền riêng rẽ, bảo vệ các giá trị trừu tượng hơn như danh dự, nhân phẩm, quan hệ gia đình và trở thành quyền có nội hàm rộng và bao quát đó là quyền không bị quấy rầy hay quyền riêng tư” [8], theo đó, cá nhân đƣợc pháp luật bảo vệ không gian riêng để phát triển, hình thành nhân cách. Trong hệ thống quyền con ngƣời, quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ là một quyền cơ bản cần đƣợc tôn trọng và thực hiện. Mặc dù quyền này đã đƣợc đề cập ngay từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, song khái niệm và tính pháp lý của quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ chỉ thực sự đƣợc khẳng định cùng với sự đời và phát triển của chủ nghĩa tƣ bản. Năm 1361, khi các thẩm phán Anh đƣa ra cơ sở cho việc bắt giữ Peeping Toms và các tiêu chuẩn khác mà không xâm hại về tính riêng tƣ, Nghị sĩ William Pitt đã viết: “Những người nghèo nhất cũng có thể nêu ra yêu cầu buộc tất cả các quan chức phải tôn trọng.
Mặc dù căn nhà của họ có thể là xập xệ, mái của nó có thể lắc, gió có thể thổi, các cơn bão có thể vào, mưa có thể xâm nhập - nhưng vua nước Anh không thể tự tiện vào nhà của họ được” [4[6]. Từ tiền lệ ở nƣớc Anh, nhiều quốc gia khác lần lƣợt ghi nhận và phát triển quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ trong các thế kỷ tiếp sau đó. Ví dụ, năm 1776, Quốc hội Thụy Điển đã ban hành Luật tiếp cận với các hồ sơ công (Law on Access to Public Records), trong đó yêu cầu tất cả các thông tin của công dân mà chính phủ lƣu giữ phải đƣợc bảo mật, và chỉ có thể đƣợc sử dụng cho mục đích hợp pháp. Trên phạm vi quốc tế, quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ chính thức đƣợc thừa nhận trong UDHR năm 1948, sau đó đƣợc khẳng định trong ICCPR năm 1966 và một số điều ƣớc khác của LHQ cũng nhƣ của các khu vực.
Các học giả trên thế giới đã đƣa ra nhiều định nghĩa về quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ. Ví dụ, Tòa án Tòa án tối cao Hoa Kỳ cho rằng đó là “quyền được ở một mình” [4[6]. Warren và Louis D. Brandeis trong bài viết “Quyền về sự riêng tƣ” (The Right to Privacy) cũng cùng một quan điểm nêu trên.
Tuy nhiên, 8 z Robert Ellis Smith, biên tập viên của Tạp chí Bảo mật, thì xác định quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ là: "Những mong muốn của mỗi người chúng ta cho không gian vật lý mà chúng ta có thể hoàn toàn không bị gián đoạn, xâm nhập, bối rối, hoặc chịu trách nhiệm và kiểm soát được thời gian và cách thức tiết lộ thông tin của cá nhân thông tin về bản thân” [4[6]. Tom Gerety lại cho rằng, quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ là “quyền tự chủ hay kiểm soát các giá trị nhân thân và bản sắc cá nhân” [4[6] và khẳng định rằng, một định nghĩa hẹp về sự riêng tƣ là tốt hơn một định nghĩa rộng. Hội đồng Calcutt ở Vƣơng quốc Anh cho rằng: “Không nơi nào chúng ta có thể tìm thấy một định nghĩa hoàn toàn thỏa đáng về quyền riêng tư” [4[6], quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ đƣợc định nghĩa là quyền của cá nhân đƣợc bảo vệ để chống lại sự xâm nhập vào đời sống cá nhân hay công việc của mình (hoặc những ngƣời trong gia đình) bằng các phƣơng tiện vật lý trực tiếp hoặc bằng cách công bố thông tin. Alan Westin trong cuốn “Tự do và riêng tƣ” (Freedom and Privacy), định nghĩa quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ nhƣ sau: “Quyền được bảo vệ đời tư như là một quyền giới hạn của các cá nhân, nhóm, tổ chức để xác định cho mình khi nào, làm thế nào và ở mức độ nào đối với thông tin của họ được truyền đạt cho người khác” [4[6].
Mức độ ghi nhận và bảo vệ quyền về đời tƣ giữa các quốc gia có nhiều sự khác biệt, pháp luật Nhật Bản đã hợp nhất khái niệm này với khái niệm bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong đó sự riêng tƣ chính là việc quản lý thông tin cá nhân, trong khi đó BLDS Pháp chỉ thừa nhận quyền này nhƣng không có sự giải thích cụ thể. Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ sự riêng tƣ thƣờng đƣợc xem nhƣ là một cách để hƣớng dẫn xã hội hạn chế can thiệp vào công việc của cá nhân [16[18, tr. Mặc dù có nhiều điểm không giống nhau, song nhìn chung các định nghĩa về quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ đều nhấn mạnh rằng quyền này dùng để chỉ tình trạng sinh hoạt của cá nhân mà không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ những ngƣời xung quanh, là quyền đƣợc sống nhƣ mong muốn của mỗi cá nhân mà không chịu sự ảnh hƣởng bởi bất kỳ chủ thể nào khác. Nói cách khác, sự tự chủ là yếu tố quan trọng nhất thuộc quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ.
Quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ không phải là một quyền tuyệt đối, quyền này có 9 z thể bị hạn chế trong những trƣờng hợp nhất định, thông thƣờng những giới hạn đó liên quan đến việc bảo vệ thuần phong, mỹ tục và các điều cấm của pháp luật. Bởi cá nhân sống trong một cộng đồng, bên cạnh lợi ích của bản thân còn lợi ích của các chủ thể khác và lợi ích của cộng đồng, sự cân bằng giữa các lợi ích này là cần thiết. Bất cứ cá nhân nào cũng đƣợc pháp luật bảo vệ quyền về đời tƣ.