Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VE ÁN TREO THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của án treo trong luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm về án treo Như đã phân tích ở phần trên, án treo là một chế định quan trọng trong pháp luật hình sự của Việt Nam. Theo từ điển tiếng Việt thì, “treo được hiểu là tạm gác, tạm đình lại trong một thời gian” [49, tr1032].
Như vậy, nếu giải nghĩa theo khía cạnh từ vựng, án treo được hiểu là “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù trong một thời gian”. Đây là cách hiểu về mặt câu chữ trong Điều 10 Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà về việc tổ chức các Toà án quân sự: “Bản án xử treo sẽ tạm đình việc thi hành”. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, câu chữ không phải là lúc nào cũng phản ánh đúng và đầy đủ bản chất thực tế của sự vật, hiện tượng. Án treo chính là trường hợp như vậy.
Nếu chỉ hiểu án treo là “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù trong một thời gian” thì phải chăng hết thời gian “tạm gác lại, tạm đình lại” thì người bị kết án lại tiếp tục phải thi hành bản án? Nếu như vậy thì án treo không có ý nghĩa về mặt thực tế. Thà rằng người bị kết án được thi hành ngay và luôn bản án dé nỗ lực cải tao để sớm được trở lại cuộc sống bình thường, còn hơn là phải chờ đợi một thời gian rồi mới thi hành. Như vậy, thời gian “mất tự do” của người này tự nhiên bị kéo dài bất hợp lý. Do đó “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù trong một thời gian” chỉ là câu chữ.
Còn về bản chất, nếu trong thời gian “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù” mà người bị kết án cải tạo tốt, đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ và điều kiện mà pháp luật quy định thì bản án phạt tù đã tuyên sẽ được huỷ bỏ hoàn toàn — nghĩa là người bị kết án được miễn chấp hành bản án phạt tù. Ngược lại, nếu người bị kết án tái phạm trong thời gian “tạm gác lại, tạm đình lại bản án phạt tù” thì bản án phạt tù đang được “tạm gác lại, tạm đình lại” sẽ được thi hành trên thực tế - nghĩa là người bị kết án sẽ phải chấp hành bản án phạt tù. Như vậy, nếu xét về bản chất, thì án treo trong Điều 10 Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà được hiểu là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Cách hiểu này cũng khá tương đồng với cách hiểu ở nhiều nước trên thế giới.
Ví dụ, theo cách hiểu của bang Northern Territory của Úc thì án treo được hiểu là: Án treo được coi là một bản án phạt tù, mà theo đó, Toà án quyết định đình chỉ một phần hoặc toàn bộ việc chấp hành bản án phạt tù này. Khi bản án phạt tù được đình chỉ, người phạm tội có thê sống trong cộng đồng mà không phải bị giam giữ miễn là người này tuân thủ theo các điều kiện do Toà án đưa ra. Nếu người phạm tội không tuân theo những điều kiện này thì người phạm tội phải chấp hành hình phạt tù [60]. Tương tự, ở Hoa Kỳ cũng có cách hiểu như vậy “Trong luật hình sự, án treo là biện pháp thay thé cho hình phạt tù theo đó thẩm phán quyết định đình chỉ một phần hoặc Toàn bộ hình phạt tù cho người bị kết án nếu người này đáp ứng những điều kiện nhất định.
Nếu các điều kiện này bi vi phạm, án treo sẽ được huỷ bỏ và hình phạt tù được khôi phục” [59]. “Theo pháp luật của Pháp, án treo được quy định với bản chất là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt, nhưng việc miễn chấp hành hành hình phat này có thé là miễn chấp hành một phan hình phạt ti, hoặc miễn chấp hành Toàn bộ hình phat tù” [51, tr. “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho người bị kết án phạt tù, không buộc họ phải chấp nhận hình phạt tù giam tại trại giam khi có những điều kiện nhất định, nhằm khuyến khích họ tự cải tạo dé trở thành công dân có ích cho xã hội” [8, tr. “Pháp luật Anh va Đức cũng đều tiếp cận án treo không phải là hình phạt mà là một biện pháp miễn chấp hành hình phat có điều kiện” [51, tr.26] Như vậy, có thé thấy án treo được hiểu khá thống nhất ở nhiều nước trên thế giới.
Theo đó, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phat tù có điều kiện. Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan bảo vệ pháp luật, các nhà khoa học và các chuyên gia đều có cách hiểu thống nhất, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP của Hội đồng thâm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 15/05/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo, có định nghĩa về án treo như sau: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù. Theo Nguyễn Thị Trâm Anh, án treo được hiểu là: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho người bị kết án phạt tù, không buộc họ phải chấp hành hình phạt tù giam tại trại giam khi có những điều kiện nhất định, nhằm khuyến khích họ tự cải tạo dé trở thành công dân có ích cho xã hội [2, tr.28] Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam — Phần chung Đại học Quốc gia Hà Nội thi: Án treo là một biện pháp cá thể hoá trong chấp hành hình phạt tù có thời hạn, không buộc người bị kết án phạt tù cách ly khỏi xã hội, tức là người bị kết án phạt tù kèm theo thời gian thử thách nhất định 10 và được quy định trong luật hình sự, do Toà án quyết định trong bản án kết tội đối với người bị kết án, khi có đủ các căn cứ và điều kiện luật định [13, tr.487] Như vậy, có thể thấy răng, cho đến nay, nhìn chung án treo đều được hiểu thống nhất là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
Mặc dù, nhiều tác giả đưa ra định nghĩa không chỉ rõ hình phạt tù như thế nào mới được hưởng án treo. Nhưng qua nghiên cứu nội hàm của các định nghĩa, có thé thấy chỉ người bị kết án hình phạt tủ có thời hạn ở mức thấp (vi dụ theo Điều 1 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thâm phán Toà án nhân dân tối cao, bị phạt tù có thời hạn không quá 03 năm). Khi được hưởng án treo thì người bị kết án sẽ không buộc phải bị giam giữ trong trại giam mà vẫn được sinh sống tại cộng đồng dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, cơ quan, t6 chức có thâm quyền. Từ việc tham khảo các định nghĩa đã được công bồ trên, học viên xin đưa ra định nghĩa về án treo như sau: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn có điều kiện, theo đó, nếu như người bị kết án thoả mãn những điều kiện mà pháp luật quy định thì Toà án sẽ ra quyết định không buộc người bị kết án phải bị giam giữ tập trung, mà được tiếp tục sinh song trong cộng đồng dưới sự giám sát của cơ quan, tổ chức có thâm quyên trong một thời hạn thử thách theo quy định của pháp luật.
Các đặc điểm của án treo Thứ nhất, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có thời hạn có điều kiện Như vậy, án treo không phải là hình phạt mà là một biện pháp miễn chấp hành hình phat tù có điều kiện. Nghĩa là, người phạm tội đã bị Toà án tuyên là phạm tội và phải chịu hình phạt tù có thời hạn nhưng không phải chấp hành hình phạt tù bằng cách bị giam giữ trong trại giam do đáp ứng 11 những điều kiện luật định. Đây là đặc điểm dùng để phân biệt với cải tạo không giam giữ. Mặc dù cả án treo và cải tạo không giam giữ đều không buộc người bị kết án cách ly khỏi xã hội, nhưng án treo không phải là hình phạt, trong khi đó cải tạo không giam giữ là một hình phạt.
Trong trường hợp người bị kết án bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt tù bị áp dụng thấp (ví dụ từ 03 năm trở xuống) thì Toà án sẽ đánh giá xem các điều kiện được hưởng án treo có được đáp ứng hay không? Nếu các điều kiện được hưởng án treo được đáp ứng thì Toà án sẽ cho người bị kết án được hưởng án treo — nghĩa là người bị kết án không phải chấp hành hình phạt tù (không bị cách ly khỏi xã hội). Như vậy, xét với tính chất, mức độ phạm tội, trong trường hợp án treo, người phạm tội phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn (hình phạt tù). Trong khi đó, trong trường hợp cải tạo không giam giữ, người phạm tội phải chịu mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn, vì tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấp hơn. Người được hưởng án treo đã thực hiện hành vi phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn so với người bi phạt cải tao không giam giữ.
Nhưng người phạm tội được hưởng án treo vi đáp ứng đầy đủ những điều kiện luật định. Vậy những điều kiện để được hưởng án treo là gì? Điều kiện để được hưởng án treo là điều kiện tiên quyết. Có nghĩa là người bị kết án phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định thì mới được hưởng án treo. Nói cách khác, nếu người phạm tội không đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định thì Toà án không được phép cho hưởng án treo.
Như Phan Trung Hiền & Trần Văn Trung phân tích “việc áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cho người bị kết án phải thận trọng và xem xét kỹ lưỡng, không thể tuỳ tiện cho người bị phạt tù được hưởng án treo theo ý chí chủ quan của Hội đồng xét xử, phải xem xét những căn cứ và điều kiện cho hưởng án treo một cách toàn diện va chính xác” [20, tr.