Nghiên cứu quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong pháp luật dân sự Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội theo quy định của pháp luật dân sự, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

283
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NHÓM NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRONG XÃ HỘI

1.1. Khái quát chung về nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.2. Khái niệm và đặc điểm nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.3. Phân loại nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.4. Khái niệm quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ghi nhận và đảm bảo quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.5.1. Cơ sở lý luận của việc ghi nhận và đảm bảo quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.5.2. Cơ sở thực tiễn của việc ghi nhận và đảm bảo quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.6. Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.6.1. Tư tưởng và sự phát triển về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam trước năm 1995

1.6.2. Quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995

1.6.3. Quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005

1.6.4. Quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương ở Việt Nam theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015

1.7. Pháp luật quốc tế về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

1.8. Quyền nhân thân của phụ nữ

1.9. Quyền nhân thân của trẻ em

1.10. Quyền nhân thân của những người sống chung với HIV/AIDS

1.11. Quyền nhân thân của người khuyết tật

1.12. Quyền nhân thân của người lao động di trú

1.13. Quyền nhân thân của người thiểu số

1.14. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NHÓM NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRONG XÃ HỘI

2.1. Khái quát chung về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành

2.2. Nội dung của các quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành

2.3. Các quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân

2.4. Các quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội liên quan đến giá trị của con người trong xã hội

2.5. Các quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội liên quan đến thân thể con người

2.6. Các quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình

2.7. Các quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội liên quan đến hoạt động lao động, sáng tạo của cá nhân

2.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VẬN DỤNG VÀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NHÓM NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRONG XÃ HỘI

3.1. Những mặt tích cực đã đạt được trong việc vận dụng và bảo vệ các quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

3.1.1. Trong việc bảo vệ quyền nhân thân đối với trẻ em

3.1.2. Trong việc bảo vệ quyền nhân thân đối với phụ nữ

3.1.3. Trong việc bảo vệ quyền nhân thân đối với nhóm người dân tộc thiểu số

3.1.4. Trong việc bảo vệ quyền nhân thân đối với nhóm người khuyết tật

3.1.5. Trong việc bảo vệ quyền nhân thân đối với nhóm người lao động di trú

3.1.6. Trong việc bảo vệ quyền nhân thân đối với nhóm người sống chung với HIV/AIDS

3.2. Những mặt hạn chế trong việc vận dụng và bảo vệ các quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

3.2.1. Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục, xâm phạm hình ảnh, quyền riêng tư, bí mật cá nhân và bị ngược đãi trở nên phổ biến và nghiêm trọng

3.2.2. Tình trạng phụ nữ bị xâm phạm về sức khỏe, thân thể, bị bạo lực gia đình, phân biệt đối xử vẫn còn tồn tại và có thiên hướng phức tạp hơn

3.2.3. Việc tiếp cận một số quyền nhân thân cơ bản của nhóm người thiểu số còn gặp nhiều khó khăn

3.2.4. Tình trạng kì thị, phân biệt đối xử đối với người khuyết tật vẫn còn tồn tại, quá trình hoà nhập cộng đồng của người khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn

3.2.5. Trong việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm lao động di trú tại Việt Nam ở một số lĩnh vực chưa có sự hướng dẫn cụ thể dẫn đến hệ quả khó khăn khi tiếp cận quyền

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA NHÓM NGƯỜI DỄ BỊ TỔN THƯƠNG TRONG XÃ HỘI

4.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

4.1.1. Thể chế hóa kịp thời, đầy đủ và đúng đắn quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

4.1.2. Bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong hệ thống pháp luật đối với việc bảo đảm quyền con người, quyền nhân thân

4.1.3. Việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương cần phù hợp với các văn kiện quốc tế mà Việt Nam tham gia, ký kết

4.1.4. Kế thừa tính nhân văn, đặc biệt là quyền của những người yếu thế trên cơ sở bảo vệ và thực hiện nghiêm minh bằng pháp luật

4.2. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao pháp luật về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

4.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

4.2.2. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương

4.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương

Quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương là một khái niệm quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam. Nhóm người này bao gồm những cá nhân có hoàn cảnh đặc biệt, dễ bị tổn thương trong xã hội như trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi, và những người sống chung với HIV/AIDS. Theo quy định của pháp luật dân sự, quyền nhân thân bao gồm quyền riêng tư, quyền sống, quyền tự do cá nhân và quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm. Việc ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người này không chỉ thể hiện sự tôn trọng nhân quyền mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng. Đặc biệt, quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương cần được bảo vệ một cách đặc biệt để đảm bảo họ có thể tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội mà không bị phân biệt hay kỳ thị.

1.1. Đặc điểm của nhóm người dễ bị tổn thương

Nhóm người dễ bị tổn thương thường có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm sự thiếu hụt về quyền lợi, khả năng tiếp cận dịch vụ và sự hỗ trợ từ cộng đồng. Họ thường phải đối mặt với nhiều rào cản trong việc thực hiện quyền con người, đặc biệt là quyền nhân thân. Ví dụ, trẻ em có thể bị xâm hại tình dục, trong khi người khuyết tật có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục. Những đặc điểm này đòi hỏi pháp luật phải có những quy định cụ thể và chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi của họ. Việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người này không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là của toàn xã hội.

II. Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về quyền nhân thân

Pháp luật dân sự Việt Nam đã có những quy định cụ thể về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận quyền nhân thân như một trong những quyền cơ bản của con người. Các quyền này bao gồm quyền sống, quyền tự do cá nhân, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm và quyền riêng tư. Đặc biệt, pháp luật cũng quy định rõ ràng về quyền của trẻ em, người khuyết tật và người cao tuổi, nhằm đảm bảo họ được bảo vệ và hỗ trợ trong các tình huống khó khăn. Việc thực hiện các quy định này là rất cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nhóm người dễ bị tổn thương, đồng thời nâng cao nhận thức của xã hội về tầm quan trọng của quyền nhân thân.

2.1. Quyền nhân thân của trẻ em

Trẻ em là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất trong xã hội. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em, bao gồm quyền được sống, quyền được giáo dục, quyền được bảo vệ khỏi bạo lực và xâm hại. Theo Công ước về quyền trẻ em mà Việt Nam đã ký kết, trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức xâm hại và phân biệt đối xử. Điều này thể hiện sự cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, đồng thời khẳng định rằng trẻ em cần được đối xử với sự tôn trọng và bảo vệ đặc biệt.

III. Thực tiễn bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương

Thực tiễn bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Mặc dù có nhiều quy định pháp luật, nhưng việc thực thi các quy định này còn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng xâm hại quyền lợi của trẻ em, phụ nữ và người khuyết tật vẫn diễn ra phổ biến. Nhiều trường hợp không được xử lý kịp thời, dẫn đến việc quyền nhân thân của họ bị xâm phạm. Đặc biệt, sự thiếu hụt về nguồn lực và nhận thức của cộng đồng về quyền nhân thân cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này. Cần có những biện pháp cụ thể để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của xã hội trong việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương.

3.1. Những thách thức trong việc bảo vệ quyền nhân thân

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương là sự thiếu hụt về nguồn lực và sự hỗ trợ từ cộng đồng. Nhiều tổ chức và cá nhân chưa nhận thức đầy đủ về quyền lợi của nhóm người này, dẫn đến việc họ không được bảo vệ một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn trong việc thực thi các quy định pháp luật, nhằm đảm bảo quyền lợi của nhóm người dễ bị tổn thương được thực hiện một cách đầy đủ và hiệu quả.

IV. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân

Để bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương, cần có những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi. Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về quyền nhân thân cho cộng đồng, đặc biệt là nhóm người dễ bị tổn thương. Thứ hai, cần có những quy định pháp luật cụ thể hơn để bảo vệ quyền lợi của nhóm người này, đồng thời đảm bảo tính khả thi trong việc thực hiện. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và tổ chức xã hội trong việc bảo vệ quyền nhân thân, nhằm tạo ra một môi trường an toàn và bình đẳng cho tất cả mọi người.

4.1. Tăng cường công tác tuyên truyền và giáo dục

Công tác tuyên truyền và giáo dục về quyền nhân thân là rất quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của nhóm người dễ bị tổn thương. Cần tổ chức các chương trình đào tạo, hội thảo và các hoạt động cộng đồng nhằm nâng cao hiểu biết về quyền nhân thân, từ đó tạo ra sự đồng thuận và hỗ trợ từ xã hội. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của nhóm người dễ bị tổn thương mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng và bình đẳng hơn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, với biết bao cuộc đấu tranh chống quân xâm lược. Vì vậy chúng ta hiểu rõ hơn ai hết giá trị của độc lập, tự do, quyền sống và mưu cầu hạnh phúc. Tư tưởng nhân quyền ở Việt Nam đã có từ rất lâu và được thể hiện trước hết qua những ý niệm và hành động khoan dung, nhân đạo. Trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi với tinh thần “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” đã thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân quyền của Việt Nam.

Bởi vậy, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt đầu với một định đề triết học nhân văn dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”. Sự bình đẳng của cá nhân được thể hiện trong việc hưởng quyền (trong đó có các quyền nhân thân) và nghĩa vụ do pháp luật quy định luôn được xem là kim chỉ nam trong đường lối lãnh đạo và chính sách phát triển của Đảng, Nhà nước. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã rất nỗ lực trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong phạm vi quốc gia cũng như đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh vì nhân quyền của nhân loại. Thể hiện ở việc Nhà nước ta đã hình thành một hệ thống các văn bản pháp luật tương đối đầy đủ và khá tương thích với luật pháp quốc tế về nhân quyền.

Đồng thời cũng đã hình thành lên một cơ chế bảo đảm quyền con người nói chung, quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng. Quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 trước đây và hiện nay là Bộ luật dân sự năm 2015 với nhiều nhóm quyền quan trọng với mục đích bảo vệ con người, coi con người là đối tượng trung tâm, đối tượng cần được hướng tới và bảo đảm thực hiện. Con người tự nhiên sinh ra vốn đa dạng bởi sắc tộc, màu da, thể lực, trí lực, giới tính, độ tuổi. Chính sự tự nhiên này cùng với sự tác động của các định kiến xã hội, sự nhìn nhận phiến diện của một bộ phận người, sự ảnh hưởng của phong tục, tập quán, 9 luan an thói quen.

nên có một nhóm người trong xã hội ở vào “thế yếu” – họ là nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Với cách hiểu trên, nhóm dễ bị tổn thương có thể chia thành những loại như sau: những người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, người nhiễm HIV, dân di cư… Đây là những nhóm xã hội có khả năng chống đỡ, tự bảo vệ thấp nhất và thiệt hại đối với họ thường là cao nhất. Với tình hình thực tế ở đất nước ta qua hơn ba thập kỉ đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Để đưa đất nước ta trở thành nước công nghiệp, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng, nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò và nâng cao vị thế của con người, xem con người là trung tâm của chiến lược phát triển.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn còn tồn tại nhóm xã hội dễ bị tổn thương chưa được thụ hưởng nhiều những giá trị dân chủ, công bằng, bình đẳng trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội so với nhóm xã hội phổ biến khác. Xét về mặt kinh tế, việc xây dựng nền kinh tế thị trường dù ở bất cứ dạng nào cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận ở chừng mực nhất định quy luật khắt khe của thị trường. Theo đó, quy luật của thị trường, khách hàng là thượng đế, có nghĩa là nó đáp ứng cho nhu cầu của “khách hàng” nhưng cũng có nghĩa là nó không đáp ứng cho nhu cầu của những người không có khả năng trở thành “khách hàng”. Thị trường là một cơ chế hữu hiệu để nâng cao số lượng và chất lượng của hàng hóa thông thường nhưng nó tỏ ra kém hữu hiệu trong việc cung ứng “hàng hóa công cộng” và những “hàng hóa công cộng” này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc đáp ứng những năng lực cơ bản như chăm sóc sức khỏe sơ đẳng, cơ hội giáo dục cơ bản….

“Hàng hóa công cộng” trước hết đáp ứng nhu cầu chung của xã hội, cho cả nhóm thường và nhóm dễ bị tổn thương nhưng nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nhóm dễ bị tổn thương, bởi đây chính là những yếu tố cần thiết nhất để nâng cao năng lực cho nhóm dễ bị tổn thương để họ có thể chống đỡ và phục hồi. 10 luan an Xét về mặt chính trị, nhóm dễ bị tổn thương hạn chế về khả năng tham gia để tiếng nói của mình được lắng nghe và những lợi ích cơ bản của họ có thể được đầy đủ hơn. Mặt khác, họ cũng không có đủ nguồn lực để tham gia bởi những nguồn lực này tập trung cho sự tồn tại và chống đỡ tổn thương mà họ phải gánh chịu. Xét về mặt đạo lý xã hội, chuyển sang kinh tế thị trường ảnh hưởng nhất định đến những giá trị đạo lý truyền thống như nhân ái, đùm bọc - vốn được xây dựng và củng cố bởi phép trị nước theo nhân nghĩa, đạo đức.

Kinh tế thị trường lấy chuẩn vật chất làm đầu, khả năng sinh lời, sức mạnh của tiền bạc đã làm xói mòn ít nhiều giá trị nhân văn, nhân bản. Nói một cách đơn giản, chúng ta có thể giàu hơn nhưng chúng ta cũng có thể tàn ác hơn. Những nghiên cứu gần đây cho thấy có lẽ sự phát triển có nguy cơ thiếu bền vững bởi chúng ta thiếu các nguồn vốn mới như: vốn đạo đức, vốn con người, vốn văn hóa, vốn xã hội… Tuy nhiên cũng như các nước khác trên thế giới, hiện nay Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức về quyền con người, trong đó nổi bật lên vấn đề về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương. Nhóm người dễ bị tổn thương là những nhóm, cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người.

Bởi vậy cần chú ý bảo vệ đặc biệt so với các nhóm khác. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện đại, sự phát triển của xã hội loài người mang lại nhiều thành tựu về kinh tế, y tế, văn hóa xã hội… nhưng các quyền nhân thân của cá nhân nói chung và nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng vẫn bị xâm phạm và không được bảo vệ thỏa đáng với phạm vi khá phổ biến và tần suất không ngừng gia tăng, thậm chí tính mạng và sức khỏe của nhóm người này vẫn thường xuyên bị đe dọa, việc bảo vệ nó tưởng chừng như đơn giản, nhưng trên thực tế, sự vi phạm trong thời gian qua có thể nói là đang tràn lan, trở thành mối lo cho xã hội. Hơn thế, sự phát triển của xã hội loài người hướng đến sự phát triển toàn diện về vật chất và tinh thần, do vậy, việc gia tăng sự quan tâm và bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương chỉ dấu cho sự phát triển của nhân loại nói chung là một yêu cầu rất bức thiết hiện nay. 11 luan an “Nhóm người dễ bị tổn thương” trong xã hội dường như là khái niệm còn tương đối mới mẻ trong pháp luật Việt Nam nên các quy định của pháp luật và cơ chế bảo vệ quyền của nhóm người này (trong đó có quyền nhân thân) còn nhiều hạn chế.

Hướng tới một xã hội công bằng, bình đẳng thì các quyền dân sự nói riêng, các quyền nhân thân nói chung phải được ghi nhận và đảm bảo thực hiện một cách nghiêm chỉnh đối với mọi đối tượng trong xã hội. Do đó, việc nghiên cứu các vấn đề về quyền nhân thân của cá nhân nói chung, quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng là vấn đề mang tính cấp bách có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn trong thời gian tới. Phần II CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước A.

Bài viết trên các tạp chí (1) International Journal of Constitutional Law “The promise of an emerging concept in European Human Rights Convention law” - International Journal of Constitutional Law, Volume 11, Issue 4 ,1 October 2013, Pages 1056–1085 ( Bài viết “Triển vọng về một khái niệm mới trong Công ước về Quyền con người của Liên minh Châu Âu - Tạp chí Quốc tế về Luật Hiến pháp, Tập 11, Số 4, Ngày 1 tháng 10 năm 2013, Các trang 1056-1085)  Bài viết “Triển vọng về một khái niệm mới trong Công ước về Quyền con người của Liên minh Châu Âu” được nghiên cứu dưới góc độ các đặc điểm và ý nghĩa của khái niệm về các nhóm dễ bị tổn thương. Khái niệm về các nhóm dễ bị tổn thương đang tăng lên trong luật pháp của Tòa án Nhân quyền của Châu Âu. Toà án cho đến nay đã sử dụng khái niệm này trong những trường hợp liên quan đến người Roma, những người có khuyết tật về tâm thần, những người bị HIV và người xin tị nạn. Dựa vào các cuộc tranh luận lý thuyết về tính dễ bị tổn thương cũng như về luật, về vụ kiện của Toà án, bài viết cung cấp một đánh giá quan trọng của khái niệm này.

Lý luận về các nhóm dễ bị tổn thương mở ra một số khả năng, đáng chú ý nhất là cơ hội để tiến gần hơn ý tưởng mạnh 12 luan an mẽ về sự bình đẳng. Tuy nhiên, khái niệm này cũng có một số hạn chế nhất định và bài viết này bình luận về cách sử dụng, phản ánh khái niệm này cũng như chỉ ra cách thức mà Tòa án có thể tránh được những hạn chế của nó.  Ngoài ra, nội dung bài viết có đề cập đến các đặc điểm và ý nghĩa của khái niệm về các nhóm dễ bị tổn thương trong luật về vụ việc của Strasbourg, phản ánh tính dễ bị tổn thương của nhóm người, đưa ra đánh giá phê bình khái niệm này bằng cách tham khảo các cuộc tranh luận lý thuyết về tính dễ tổn thương và án lệ của Toà án. Việc sử dụng thuật ngữ “những người (nhóm) dễ bị tổn thương” của Tòa án cũng đồng thời giải quyết các khía cạnh khác nhau về sự bất bình đẳng theo một cách cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong pháp luật dân sự Việt Nam" của tác giả Phạm Hùng Cường, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Đình Nghị và PGS. Hà Thị Mai Hiên, tập trung vào việc phân tích và làm rõ quyền nhân thân của các nhóm người dễ bị tổn thương trong bối cảnh pháp luật dân sự Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quyền lợi và bảo vệ pháp lý cho những nhóm đối tượng này mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức bảo vệ quyền lợi của những người dễ bị tổn thương, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến pháp luật và quyền lợi của cá nhân, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình", nơi đề cập đến quyền lợi và trách nhiệm của cá nhân trong lĩnh vực đất đai. Bên cạnh đó, bài viết "Luận văn thạc sĩ về pháp luật giá đất và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh" cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về quyền lợi của người dân trong các giao dịch liên quan đến đất đai. Cuối cùng, bài viết "Luận Văn Thạc Sĩ Về Pháp Luật Bảo Hiểm Y Tế Tại Huyện Phúc Thọ, Hà Nội" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền lợi của cá nhân trong lĩnh vực bảo hiểm y tế, một khía cạnh quan trọng trong việc bảo vệ quyền nhân thân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các quyền lợi và bảo vệ pháp lý cho các nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội.