MỞ ĐẦU Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, với biết bao cuộc đấu tranh chống quân xâm lược. Vì vậy chúng ta hiểu rõ hơn ai hết giá trị của độc lập, tự do, quyền sống và mưu cầu hạnh phúc. Tư tưởng nhân quyền ở Việt Nam đã có từ rất lâu và được thể hiện trước hết qua những ý niệm và hành động khoan dung, nhân đạo. Trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi với tinh thần “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” đã thể hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân quyền của Việt Nam.
Bởi vậy, khi đọc bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt đầu với một định đề triết học nhân văn dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”. Sự bình đẳng của cá nhân được thể hiện trong việc hưởng quyền (trong đó có các quyền nhân thân) và nghĩa vụ do pháp luật quy định luôn được xem là kim chỉ nam trong đường lối lãnh đạo và chính sách phát triển của Đảng, Nhà nước. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã rất nỗ lực trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong phạm vi quốc gia cũng như đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh vì nhân quyền của nhân loại. Thể hiện ở việc Nhà nước ta đã hình thành một hệ thống các văn bản pháp luật tương đối đầy đủ và khá tương thích với luật pháp quốc tế về nhân quyền.
Đồng thời cũng đã hình thành lên một cơ chế bảo đảm quyền con người nói chung, quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng. Quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 trước đây và hiện nay là Bộ luật dân sự năm 2015 với nhiều nhóm quyền quan trọng với mục đích bảo vệ con người, coi con người là đối tượng trung tâm, đối tượng cần được hướng tới và bảo đảm thực hiện. Con người tự nhiên sinh ra vốn đa dạng bởi sắc tộc, màu da, thể lực, trí lực, giới tính, độ tuổi. Chính sự tự nhiên này cùng với sự tác động của các định kiến xã hội, sự nhìn nhận phiến diện của một bộ phận người, sự ảnh hưởng của phong tục, tập quán, 9 luan an thói quen.
nên có một nhóm người trong xã hội ở vào “thế yếu” – họ là nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Với cách hiểu trên, nhóm dễ bị tổn thương có thể chia thành những loại như sau: những người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, người nhiễm HIV, dân di cư… Đây là những nhóm xã hội có khả năng chống đỡ, tự bảo vệ thấp nhất và thiệt hại đối với họ thường là cao nhất. Với tình hình thực tế ở đất nước ta qua hơn ba thập kỉ đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Để đưa đất nước ta trở thành nước công nghiệp, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng, nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò và nâng cao vị thế của con người, xem con người là trung tâm của chiến lược phát triển.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội vẫn còn tồn tại nhóm xã hội dễ bị tổn thương chưa được thụ hưởng nhiều những giá trị dân chủ, công bằng, bình đẳng trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội so với nhóm xã hội phổ biến khác. Xét về mặt kinh tế, việc xây dựng nền kinh tế thị trường dù ở bất cứ dạng nào cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận ở chừng mực nhất định quy luật khắt khe của thị trường. Theo đó, quy luật của thị trường, khách hàng là thượng đế, có nghĩa là nó đáp ứng cho nhu cầu của “khách hàng” nhưng cũng có nghĩa là nó không đáp ứng cho nhu cầu của những người không có khả năng trở thành “khách hàng”. Thị trường là một cơ chế hữu hiệu để nâng cao số lượng và chất lượng của hàng hóa thông thường nhưng nó tỏ ra kém hữu hiệu trong việc cung ứng “hàng hóa công cộng” và những “hàng hóa công cộng” này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc đáp ứng những năng lực cơ bản như chăm sóc sức khỏe sơ đẳng, cơ hội giáo dục cơ bản….
“Hàng hóa công cộng” trước hết đáp ứng nhu cầu chung của xã hội, cho cả nhóm thường và nhóm dễ bị tổn thương nhưng nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với nhóm dễ bị tổn thương, bởi đây chính là những yếu tố cần thiết nhất để nâng cao năng lực cho nhóm dễ bị tổn thương để họ có thể chống đỡ và phục hồi. 10 luan an Xét về mặt chính trị, nhóm dễ bị tổn thương hạn chế về khả năng tham gia để tiếng nói của mình được lắng nghe và những lợi ích cơ bản của họ có thể được đầy đủ hơn. Mặt khác, họ cũng không có đủ nguồn lực để tham gia bởi những nguồn lực này tập trung cho sự tồn tại và chống đỡ tổn thương mà họ phải gánh chịu. Xét về mặt đạo lý xã hội, chuyển sang kinh tế thị trường ảnh hưởng nhất định đến những giá trị đạo lý truyền thống như nhân ái, đùm bọc - vốn được xây dựng và củng cố bởi phép trị nước theo nhân nghĩa, đạo đức.
Kinh tế thị trường lấy chuẩn vật chất làm đầu, khả năng sinh lời, sức mạnh của tiền bạc đã làm xói mòn ít nhiều giá trị nhân văn, nhân bản. Nói một cách đơn giản, chúng ta có thể giàu hơn nhưng chúng ta cũng có thể tàn ác hơn. Những nghiên cứu gần đây cho thấy có lẽ sự phát triển có nguy cơ thiếu bền vững bởi chúng ta thiếu các nguồn vốn mới như: vốn đạo đức, vốn con người, vốn văn hóa, vốn xã hội… Tuy nhiên cũng như các nước khác trên thế giới, hiện nay Việt Nam cũng đang phải đối mặt với những thách thức về quyền con người, trong đó nổi bật lên vấn đề về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương. Nhóm người dễ bị tổn thương là những nhóm, cộng đồng có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người.
Bởi vậy cần chú ý bảo vệ đặc biệt so với các nhóm khác. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện đại, sự phát triển của xã hội loài người mang lại nhiều thành tựu về kinh tế, y tế, văn hóa xã hội… nhưng các quyền nhân thân của cá nhân nói chung và nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng vẫn bị xâm phạm và không được bảo vệ thỏa đáng với phạm vi khá phổ biến và tần suất không ngừng gia tăng, thậm chí tính mạng và sức khỏe của nhóm người này vẫn thường xuyên bị đe dọa, việc bảo vệ nó tưởng chừng như đơn giản, nhưng trên thực tế, sự vi phạm trong thời gian qua có thể nói là đang tràn lan, trở thành mối lo cho xã hội. Hơn thế, sự phát triển của xã hội loài người hướng đến sự phát triển toàn diện về vật chất và tinh thần, do vậy, việc gia tăng sự quan tâm và bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương chỉ dấu cho sự phát triển của nhân loại nói chung là một yêu cầu rất bức thiết hiện nay. 11 luan an “Nhóm người dễ bị tổn thương” trong xã hội dường như là khái niệm còn tương đối mới mẻ trong pháp luật Việt Nam nên các quy định của pháp luật và cơ chế bảo vệ quyền của nhóm người này (trong đó có quyền nhân thân) còn nhiều hạn chế.
Hướng tới một xã hội công bằng, bình đẳng thì các quyền dân sự nói riêng, các quyền nhân thân nói chung phải được ghi nhận và đảm bảo thực hiện một cách nghiêm chỉnh đối với mọi đối tượng trong xã hội. Do đó, việc nghiên cứu các vấn đề về quyền nhân thân của cá nhân nói chung, quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương nói riêng là vấn đề mang tính cấp bách có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn trong thời gian tới. Phần II CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước A.
Bài viết trên các tạp chí (1) International Journal of Constitutional Law “The promise of an emerging concept in European Human Rights Convention law” - International Journal of Constitutional Law, Volume 11, Issue 4 ,1 October 2013, Pages 1056–1085 ( Bài viết “Triển vọng về một khái niệm mới trong Công ước về Quyền con người của Liên minh Châu Âu - Tạp chí Quốc tế về Luật Hiến pháp, Tập 11, Số 4, Ngày 1 tháng 10 năm 2013, Các trang 1056-1085) Bài viết “Triển vọng về một khái niệm mới trong Công ước về Quyền con người của Liên minh Châu Âu” được nghiên cứu dưới góc độ các đặc điểm và ý nghĩa của khái niệm về các nhóm dễ bị tổn thương. Khái niệm về các nhóm dễ bị tổn thương đang tăng lên trong luật pháp của Tòa án Nhân quyền của Châu Âu. Toà án cho đến nay đã sử dụng khái niệm này trong những trường hợp liên quan đến người Roma, những người có khuyết tật về tâm thần, những người bị HIV và người xin tị nạn. Dựa vào các cuộc tranh luận lý thuyết về tính dễ bị tổn thương cũng như về luật, về vụ kiện của Toà án, bài viết cung cấp một đánh giá quan trọng của khái niệm này.
Lý luận về các nhóm dễ bị tổn thương mở ra một số khả năng, đáng chú ý nhất là cơ hội để tiến gần hơn ý tưởng mạnh 12 luan an mẽ về sự bình đẳng. Tuy nhiên, khái niệm này cũng có một số hạn chế nhất định và bài viết này bình luận về cách sử dụng, phản ánh khái niệm này cũng như chỉ ra cách thức mà Tòa án có thể tránh được những hạn chế của nó. Ngoài ra, nội dung bài viết có đề cập đến các đặc điểm và ý nghĩa của khái niệm về các nhóm dễ bị tổn thương trong luật về vụ việc của Strasbourg, phản ánh tính dễ bị tổn thương của nhóm người, đưa ra đánh giá phê bình khái niệm này bằng cách tham khảo các cuộc tranh luận lý thuyết về tính dễ tổn thương và án lệ của Toà án. Việc sử dụng thuật ngữ “những người (nhóm) dễ bị tổn thương” của Tòa án cũng đồng thời giải quyết các khía cạnh khác nhau về sự bất bình đẳng theo một cách cụ thể.