Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành" do nghiên cứu sinh Phạm Hùng Cường thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đình Nghị và PGS. Hà Thị Mai Hiên, bảo vệ năm 2020 thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự (Mã số: 9.03).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong luật nhân quyền quốc tế, nội dung về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương chiếm vị trí quan trọng và nhận được sự đồng thuận cao từ các quốc gia, thể hiện qua số lượng thành viên tham gia đông đảo ở các điều ước quốc tế chuyên biệt như Công ước về Quyền Trẻ em (CRC), Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW), và Công ước về Quyền của người khuyết tật (CRPD). Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế quốc tế và khu vực, trở thành thành viên của 7/9 công ước quốc tế chủ chốt về quyền con người, tham gia xây dựng Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN và đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2014–2016.

Ở phương diện thực tiễn, số liệu thống kê từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ ra rằng các đối tượng thuộc nhóm dễ bị tổn thương chiếm tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu dân số Việt Nam, phải đối mặt với nhiều rào cản về xã hội, kinh tế và pháp lý.

Nhóm đối tượng dễ bị tổn thương tại Việt Nam Số lượng / Tỷ lệ ghi nhận
Tỷ lệ dân số thuộc nhóm dễ bị tổn thương nói chung Hơn 20% dân số cả nước
Người cao tuổi Khoảng 9,2 triệu người
Người khuyết tật Khoảng 7,2 triệu người
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Khoảng 1,5 triệu người
Hộ nghèo Gần 5%
Hộ gia đình cần trợ giúp đột xuất hàng năm (thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa) Khoảng 1,8 triệu hộ
Người nhiễm HIV được phát hiện Khoảng 234.000 người
Người nghiện ma túy Khoảng 204.000 người
Nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình Khoảng 30.000 người

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và văn bản quy phạm pháp luật, việc tiếp cận và ghi nhận nhóm người dễ bị tổn thương trong hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa được quan tâm tương xứng. Đặc biệt, việc bảo vệ quyền nhân thân của nhóm đối tượng này chủ yếu nằm rải rác trong các văn bản chung như Bộ luật Dân sự và một số luật chuyên ngành, chưa được định hướng pháp điển hóa một cách toàn diện, đồng bộ và đúng với tính chất pháp lý đặc thù.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội; trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật. Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm, đặc điểm, bản chất của nhóm người dễ bị tổn thương và quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương; xây dựng khái niệm và chỉ ra các đặc điểm của nhóm quyền này; phân tích các vấn đề lý luận về điều kiện ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trên thực tế.
  2. Làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương; lồng ghép, nghiên cứu các quy định pháp luật một số nước trên thế giới theo hướng so sánh với các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm hoàn thiện quy định pháp luật trong nước.
  3. Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành và đưa ra các kiến nghị cụ thể để hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Chế định pháp lý về quyền con người nói chung và quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội nói riêng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan.
  • Phạm vi đối tượng cụ thể: Luận án giới hạn nghiên cứu chuyên sâu vào quyền nhân thân của 6 nhóm người dễ bị tổn thương tiêu biểu: (1) Trẻ em; (2) Phụ nữ; (3) Người dân tộc thiểu số; (4) Người khuyết tật; (5) Người lao động di trú; (6) Người sống chung với HIV/AIDS.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định Việt Nam hiện hành (trọng tâm là Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Người khuyết tật 2010, Luật Người cao tuổi 2009, Luật Trẻ em 2016, Luật Phòng chống thiên tai 2013...), có đối chiếu lịch sử lập pháp (trước 1995, Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005) và so sánh với các điều ước quốc tế, pháp luật của một số quốc gia.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền của nhóm người dễ bị tổn thương:

Các công trình nghiên cứu ngoài nước

  • Bài viết trên các tạp chí quốc tế:
    • Tạp chí International Journal of Constitutional Law (2013) với bài viết "The promise of an emerging concept in European Human Rights Convention law" phân tích sự gia tăng và ứng dụng khái niệm các nhóm dễ bị tổn thương trong án lệ của Tòa án Nhân quyền Châu Âu đối với người Roma, người khuyết tật tâm thần, người nhiễm HIV và người xin tị nạn.
    • Tạp chí Human Rights Quarterly (2011) với công trình "Human Rights Protections for Vulnerable and Disadvantaged Groups" (Johns Hopkins University Press) rà soát công việc của Ủy ban về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá (CESCR) của Liên Hợp Quốc, thiết lập bảng tiêu chí phân loại nhóm dễ bị tổn thương theo trạng thái cố định và trạng thái biến đổi.
    • Tạp chí SAGE Open (2014) với bài viết của Magnus Mfoafo-M'Carthy: "Human Rights Violations and Mental Illness: Implications for Engagement and Adherence", phân tích sự vi phạm nhân quyền đối với người bệnh tâm thần, người mù chữ tại Ấn Độ, Bangladesh và dẫn chiếu Đạo luật Bảo vệ các nhóm người dễ bị tổn thương (PVG Act 2007) của Scotland.
  • Sách chuyên khảo quốc tế:
    • Công trình của Ingrid Nifosi-Sutton: The Protection of Vulnerable Groups under International Human Rights Law, phân tích toàn diện cơ chế và công cụ giám sát nhân quyền quốc tế trong việc bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương ở cấp độ quốc gia.
    • Công trình của Pranee Liamputtong (2006): Researching the Vulnerable: A Guide to Sensitive Research Methods (NXB SAGE), tập trung vào các phương pháp nghiên cứu định tính và đạo đức nghiên cứu khi tiếp cận nhóm đối tượng yếu thế.
    • Tuyển tập của J. Alberto del Real Alcala (2017): Human Rights Issues and Vulnerable Groups - Volume 1 (Bentham Science Publishers), khảo sát các khía cạnh pháp lý và quyền của các nhóm thiểu số, người khuyết tật, người di cư, trẻ em.
  • Luận án tiến sĩ quốc tế:
    • Luận án "Vulnerable Asylum Seekers in the Common European Asylum System" nghiên cứu quy trình xác định và bảo vệ phụ nữ và trẻ vị thành niên không người đi kèm trong thủ tục tị nạn tại Liên minh Châu Âu.
    • Luận án tiến sĩ tại University College Cork (2012) nghiên cứu trường hợp bảo vệ người tị nạn dễ bị tổn thương tại trại tị nạn Dadaab (Kenya).

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Bài báo khoa học chuyên ngành:
    • TS. Nguyễn Thị Báo (2015), "Bảo đảm quyền của phụ nữ nông thôn trong chiến lược xây dựng nông thôn mới" (Tạp chí Lý luận chính trị), nêu các dữ liệu về tỷ lệ lao động nữ nông thôn chiếm 58,02% lực lượng sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và làm ra hơn 60% sản phẩm nông nghiệp.
    • TS. Trần Thái Dương (2014), "Bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật, sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế" (Tạp chí Luật học).
    • Lê Thị Quý (2000), "Bạo lực gia đình và ảnh hưởng của nó đến tâm lý và việc hình thành nhân cách của trẻ em" (Tạp chí Tâm lý học).
    • Miên Hạo (2017), bài viết dẫn thống kê của Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) về 1.800 vụ xâm hại trẻ em trung bình mỗi năm (trong đó trẻ bị hiếp dâm chiếm 65%, bị xâm hại nhiều lần chiếm 28%).
    • Trương Hồng Quang (2012), "Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính" (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật).
    • Lừ Văn Tuyên (2015), "Quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam" (Tạp chí Lý luận chính trị).
    • Khánh Minh (2017), "Tôn trọng quyền riêng tư của trẻ em" (Báo Nhân Dân).
  • Sách giáo trình và chuyên khảo trong nước:
    • Hồ Sỹ Quý (Chủ biên, 2003), Con người và phát triển con người trong quan niệm của C. Mác và Ph. Ăngghen (NXB Chính trị Quốc gia).
    • Nguyễn Đăng Dung (2009), Bảo vệ người lao động di trú (NXB Lao động).
    • Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên, 2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội).
    • Vũ Dũng (2012), Thích ứng xã hội của các nhóm xã hội yếu thế ở nước ta hiện nay (NXB Từ điển Bách khoa).
    • Hội Luật gia Việt Nam (2007), Pháp luật quốc gia và quốc tế về bảo vệ quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội).
    • Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương (NXB Lao động – Xã hội) và Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (2012).
    • Chuỗi công trình của GS.TS. Võ Khánh Vinh (Chủ biên giai đoạn 2009–2012) về tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học, cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giáo dục quyền con người do NXB Khoa học xã hội phát hành.
  • Luận văn, khóa luận và luận án:
    • Lê Đình Nghị (2008), Luận án tiến sĩ Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật Dân sự Việt Nam.
    • Các luận văn thạc sĩ và khóa luận luật học của Hoàng Ngọc Hưng (2012, quyền đối với họ tên), Phùng Thị Tuyết Trinh (2012, quyền bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, thân thể), Nguyễn Thị Thu Trang (2013, quyền khai sinh, khai tử), Nguyễn Lê Hà Giang (2013, quyền đối với hình ảnh), Tống Đức Thảo (2001, hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền con người), Trần Ngọc Hiệp (2015, quyền nhân thân đối với người khuyết tật).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chỉ tiếp cận quyền con người ở góc độ đại cương, hoặc nghiên cứu từng quyền nhân thân đơn lẻ, hoặc khảo sát một đối tượng yếu thế riêng biệt. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện chế định quyền nhân thân dành riêng cho nhóm người dễ bị tổn thương dưới góc độ luận án tiến sĩ luật học dân sự tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, đóng vai trò định hướng nghiên cứu các vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa cá nhân, xã hội và nhà nước.
  • Khái niệm nhóm người dễ bị tổn thương:
    • Dẫn chiếu quan điểm của Robert E. Goodin (1985) về tính dễ bị tổn thương phát sinh từ tự nhiên hoặc sự sắp đặt của xã hội; quan điểm của Đỗ Hồng Thơm và Vũ Công Giao (2010); định nghĩa của UNESCO; và quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật Phòng chống thiên tai năm 2013.
    • Tác giả đưa ra định nghĩa tổng hợp: "Nhóm người dễ bị tổn thương là những con người yếu thế, có nguy cơ bị xâm phạm và/hoặc dễ bị bỏ quên các quyền về con người; và họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác trong xã hội".
  • Mô hình phân loại trạng thái của CESCR (Ủy ban về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá):
Loại trạng thái Nhóm đối tượng thuộc diện phân loại Đặc điểm pháp lý
Trạng thái cố định (Fixed status) Phụ nữ, trẻ em, giới trẻ, người già, người khuyết tật, các nhóm thiểu số về chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo. Cá nhân không thể tự thay đổi hoặc việc thay đổi là không thể chấp nhận được nhằm giảm tính dễ bị tổn thương.
Trạng thái biến đổi (Variable status) Công nhân nhập cư, bà mẹ độc thân, người vô gia cư, người thất nghiệp, người nghèo. Trạng thái phát sinh do liên kết kinh tế - xã hội, có thể thay đổi bằng nỗ lực cá nhân hoặc can thiệp chính sách.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý định tính:

  • Phương pháp phân tích và bình luận: Phân tích nội hàm lý luận, cấu trúc quy phạm và các điều luật trong Bộ luật Dân sự và luật chuyên ngành.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa thực trạng áp dụng pháp luật, tổng kết các báo cáo thực tiễn từ cơ quan quản lý nhà nước và tư pháp.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế về nhân quyền (ICCPR, ICESCR, CEDAW, CRC, CRPD...) và pháp luật của một số quốc gia.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (Hiến pháp 2013, các Bộ luật Dân sự 1995, 2005, 2015, các luật chuyên ngành).
  • Hệ thống văn kiện, điều ước quốc tế của Liên Hợp Quốc và khu vực ASEAN.
  • Báo cáo số liệu thực tế từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an, cơ sở dữ liệu án lệ và tài liệu khảo sát của các tổ chức quốc tế (WHO, UNICEF, UNDP, ISDS).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

Chương 1 xây dựng khung lý luận nền tảng cho đề tài. Tác giả phân tích các đặc điểm cơ bản của nhóm người dễ bị tổn thương: vị thế chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn; khả năng tự bảo vệ hạn chế; nguy cơ bị xâm phạm quyền cao. Chương này luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ghi nhận quyền nhân thân dựa trên các nguyên tắc bình đẳng, tác động phân hóa của nền kinh tế thị trường, vấn đề hàng hóa công cộng và các giá trị đạo lý xã hội truyền thống.

Chương 1 cũng trình bày sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam về quyền nhân thân của nhóm người yếu thế qua 4 giai đoạn: trước năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, tác giả khảo cứu các chuẩn mực quốc tế về quyền nhân thân đối với 6 nhóm đối tượng: phụ nữ, trẻ em, người sống chung với HIV/AIDS, người khuyết tật, người lao động di trú và người thiểu số.

Chương 2: Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định Việt Nam điều chỉnh quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương theo 5 nhóm quyền cơ bản:

  1. Quyền nhân thân liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân: Quyền đối với họ, tên; quyền thay đổi họ, tên; quyền xác định dân tộc; quyền khai sinh, khai tử; quyền đối với quốc tịch và quyền của cá nhân đối với hình ảnh.
  2. Quyền nhân thân liên quan đến giá trị con người trong xã hội: Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền bí mật đời tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình.
  3. Quyền nhân thân liên quan đến thân thể con người: Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác; quyền xác định lại giới tính và quyền chuyển đổi giới tính.
  4. Quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình: Quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền nhận cha, mẹ, con, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân giữa các thành viên trong gia đình.
  5. Quyền nhân thân liên quan đến hoạt động lao động, sáng tạo của cá nhân: Quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng của các chủ thể thuộc nhóm dễ bị tổn thương.

Chương 3: Thực tiễn vận dụng và bảo vệ quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

Chương 3 đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trên hai phương diện:

  • Những mặt tích cực: Sự chuyển biến trong nhận thức xã hội; hệ thống trợ giúp pháp lý và các chương trình mục tiêu quốc gia; việc bảo vệ quyền trẻ em, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người lao động di trú và người sống chung với HIV/AIDS từng bước được luật hóa và triển khai cụ thể trên thực tế.
  • Những mặt hạn chế, bất cập:
    • Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo hành, xâm phạm quyền riêng tư và hình ảnh trên môi trường mạng diễn biến phức tạp.
    • Tình trạng bạo lực gia đình, phân biệt đối xử và xâm phạm thân thể đối với phụ nữ vẫn tồn tại.
    • Nhóm dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các quyền nhân thân cơ bản và đăng ký hộ tịch do rào cản địa lý và ngôn ngữ.
    • Người khuyết tật vẫn đối mặt với sự kỳ thị, khó khăn trong tiếp cận công trình công cộng, việc làm và tư pháp.
    • Nhóm lao động di trú thiếu các hướng dẫn cụ thể về cơ chế bảo vệ quyền tại nơi cư trú tạm thời và nơi làm việc.

Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội

Chương 4 xác định 4 phương hướng hoàn thiện:

  1. Thể chế hóa kịp thời, đầy đủ quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về quyền con người.
  2. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa Bộ luật Dân sự với các luật chuyên ngành trong việc bảo vệ quyền nhân thân.
  3. Tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
  4. Kế thừa truyền thống nhân văn và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Từ các phương hướng trên, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

  • Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi, bổ sung các quy phạm của Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành nhằm cụ thể hóa cơ chế thực thi quyền nhân thân của từng nhóm yếu thế; hoàn thiện cơ chế bồi thường thiệt hại phi tài sản và chế tài xử lý vi phạm.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, trợ giúp pháp lý; bố trí nguồn lực ngân sách thỏa đáng; tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát thực thi pháp luật.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ ra các kết quả và điểm mới về mặt khoa học:

  • Về lý luận: Phân tích đặc điểm, bản chất và xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về nhóm người dễ bị tổn thương và quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương trong khoa học luật dân sự Việt Nam; làm rõ các yếu tố kinh tế, xã hội, đạo lý chi phối việc thực thi các quyền này.
  • Về tính hệ thống: Phân loại và bao quát toàn diện 5 nhóm quyền nhân thân gắn liền với 6 nhóm đối tượng yếu thế cụ thể, tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu chuyên sâu về quyền nhân thân.
  • Về so sánh luật học: So sánh quy định của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế và quy định pháp luật của một số quốc gia, chỉ ra những điểm tương đồng và các khía cạnh cần nội luật hóa.
  • Về thực tiễn và lập pháp: Đánh giá các bất cập, lỗ hổng trong hệ thống pháp luật thực định hiện hành và đưa ra hệ thống kiến nghị, giải pháp đồng bộ nhằm sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự cùng các văn bản chuyên ngành liên quan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi đề tài rộng, liên quan đến nhiều đối tượng xã hội phức tạp trong điều kiện hạn chế về nguồn lực và thời gian nghiên cứu, luận án chỉ giới hạn khảo sát chuyên sâu 6 nhóm đối tượng chính (trẻ em, phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người lao động di trú, người sống chung với HIV/AIDS) mà chưa thể bao quát toàn bộ các nhóm đối tượng yếu thế khác phát sinh trong xã hội hiện đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả xác định sẽ tiếp tục tiếp thu các ý kiến đóng góp khoa học để triển khai nghiên cứu chuyên sâu hơn về cơ chế tố tụng bảo vệ quyền nhân thân, cũng như mở rộng sang các nhóm đối tượng đặc thù khác trong các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Luật Dân sự, Tố tụng dân sự và Luật Nhân quyền; cung cấp hệ thống tài liệu tham khảo trong nước và quốc tế phong phú.
  • Đối với hoạt động lập pháp và chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan lập pháp (Quốc hội, Bộ Tư pháp, các ban soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật) trong quá trình sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật và các chính sách an sinh xã hội.
  • Đối với hoạt động áp dụng pháp luật: Hỗ trợ cán bộ tư pháp, thẩm phán, luật sư, trung tâm trợ giúp pháp lý và các tổ chức xã hội nâng cao nhận thức và kỹ năng áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân cho các nhóm yếu thế trên thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "nhóm người dễ bị tổn thương" như thế nào?

Theo luận án, nhóm người dễ bị tổn thương được định nghĩa là "những con người yếu thế, có nguy cơ bị xâm phạm và/hoặc dễ bị bỏ quên các quyền về con người; và họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác trong xã hội". Nhóm này có đặc điểm là vị thế chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, khả năng tự bảo vệ hạn chế và đối mặt với nhiều rào cản xã hội.

2. Sáu nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trọng tâm được luận án nghiên cứu sâu là những nhóm nào?

Luận án giới hạn nghiên cứu chuyên sâu vào 6 nhóm đối tượng:

  1. Trẻ em
  2. Phụ nữ
  3. Nhóm người dân tộc thiểu số
  4. Nhóm người khuyết tật
  5. Nhóm người lao động di trú
  6. Nhóm người sống chung với HIV/AIDS

3. Tác giả dẫn chứng Việt Nam đã tham gia những công ước quốc tế chủ chốt nào về quyền con người?

Việt Nam đã tham gia 7 trên 9 công ước quốc tế chủ chốt của Liên Hợp Quốc:

  • Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR, gia nhập ngày 24/9/1982)
  • Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR, gia nhập ngày 24/9/1982)
  • Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW, phê chuẩn ngày 17/2/1982)
  • Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD, gia nhập ngày 9/6/1982)
  • Công ước về Quyền Trẻ em (CRC, phê chuẩn ngày 28/2/1990)
  • Công ước về Quyền của Người khuyết tật (CRPD, phê chuẩn ngày 5/2/2015)
  • Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người (CAT, phê chuẩn ngày 5/2/2015)

4. Báo cáo của Ủy ban CESCR phân chia nhóm dễ bị tổn thương thành những trạng thái nào?

Theo công trình của Ủy ban CESCR được luận án trích dẫn, nhóm dễ bị tổn thương được phân chia thành hai trạng thái:

  • Trạng thái cố định: Gồm phụ nữ, trẻ em, giới trẻ, người già, người khuyết tật, các nhóm thiểu số chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo (các đặc điểm không thể thay đổi hoặc không thể chấp nhận việc thay đổi để cải thiện tính dễ bị tổn thương).
  • Trạng thái biến đổi: Gồm công nhân nhập cư, bà mẹ độc thân, người vô gia cư, người thất nghiệp, người nghèo (các trạng thái phát sinh do liên kết kinh tế - xã hội và có thể thay đổi bằng chính sách hoặc nỗ lực cá nhân).

5. Những nhóm quyền nhân thân nào được luận án phân loại và khảo cứu trong Bộ luật Dân sự hiện hành?

Luận án phân loại quyền nhân thân thành 5 nhóm:

  1. Quyền nhân thân liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân (họ tên, khai sinh, khai tử, quốc tịch, hình ảnh...).
  2. Quyền nhân thân liên quan đến giá trị con người trong xã hội (danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư...).
  3. Quyền nhân thân liên quan đến thân thể con người (tính mạng, sức khỏe, hiến ghép mô tạng, xác định lại/chuyển đổi giới tính...).
  4. Quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình (kết hôn, ly hôn, nhận cha mẹ con, nuôi con nuôi...).
  5. Quyền nhân thân liên quan đến hoạt động lao động, sáng tạo của cá nhân (quyền tác giả, sở hữu công nghiệp...).

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Hùng Cường là công trình nghiên cứu hệ thống về chế định quyền nhân thân của nhóm người dễ bị tổn thương dưới góc độ pháp luật dân sự Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đối chiếu chuẩn mực quốc tế, phân tích cấu trúc 5 nhóm quyền nhân thân trong luật thực định và đánh giá thực trạng áp dụng đối với 6 nhóm đối tượng yếu thế. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng gắn liền với phương hướng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nâng cao hiệu lực thực thi quyền con người tại Việt Nam.