Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ luật học: "Các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự. Luận án được thực hiện theo định hướng nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp phân tích thực tiễn xét xử (tiếp cận định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê tư pháp).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bảo đảm quyền con người là mục tiêu phát triển của xã hội, đã được ghi nhận tại Điều 1 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR) và được hiến định tại khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam về quyền bất khả xâm phạm thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập quốc tế và sự phát triển công nghệ thông tin, tình hình tội phạm xâm phạm tình dục (XPTD) tại Việt Nam diễn biến phức tạp, gia tăng về số lượng, mức độ nguy hiểm và thủ đoạn thực hiện.

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), trong giai đoạn 12 năm từ năm 2006 đến năm 2017, trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân (TAND) các cấp xét xử sơ thẩm 1.624 vụ án với 1.845 bị cáo, xu hướng gia tăng đáng kể. Độ tuổi nạn nhân ngày càng giảm xuống lứa tuổi 5 đến dưới 13 tuổi, thậm chí dưới 5 tuổi. Thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ ra trung bình cứ 8 giờ có 1 trẻ em bị XPTD (tương ứng 3 trẻ em mỗi ngày); trong đó 93% thủ phạm có mối quan hệ quen biết với nạn nhân và 47% kẻ xâm hại là họ hàng, người trong gia đình nạn nhân.

Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 bộc lộ nhiều bất cập:

  • Tên tội danh về trẻ em không còn phù hợp với Luật Trẻ em năm 2016; hành vi khách quan chưa khái quát đầy đủ các dạng hành vi trên thực tế; quy định về chủ thể và phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS) còn gây vướng mắc, dẫn đến oan sai.
  • Chế tài hình phạt chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi; khung hình phạt của một số tội như hiếp dâm, dâm ô với trẻ em còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe, dẫn đến tình trạng tái phạm.
  • BLHS năm 1999 chỉ quy định 6 tội XPTD; nhiều hành vi xâm hại nghiêm trọng chưa được hình sự hóa như hành vi dâm ô đối với người lớn hoặc quấy rối tình dục, tạo lỗ hổng pháp luật bỏ lọt tội phạm.
  • Thực tiễn xét xử còn nhiều trường hợp định tội danh chưa chính xác, áp dụng TNHS và quyết định hình phạt chưa tương xứng.
  • BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) dù đã khắc phục một số hạn chế nhưng chưa giải quyết triệt để các tồn tại trên.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình luận án tiến sĩ nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện cả về cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định về các tội XPTD trong luật hình sự Việt Nam, gắn với việc tổng kết số liệu xét xử thực tiễn suốt 12 năm (2006-2017) trên phạm vi cả nước nhằm đề xuất các kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện BLHS năm 2015.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm sáng tỏ, sâu sắc và có hệ thống những vấn đề lý luận, thực tiễn về các tội XPTD; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật hình sự về các tội XPTD trong quá trình giải quyết vụ án, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống nhóm tội phạm này, bảo đảm quyền con người và trật tự an toàn xã hội.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận án ở trong và ngoài nước, nhận xét và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu của luận án.
  2. Xây dựng khái niệm khoa học về các tội XPTD và làm rõ đặc điểm, cơ sở, căn cứ quy định các tội XPTD trong luật hình sự Việt Nam.
  3. Hệ thống hóa và khái quát lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội XPTD từ thời phong kiến đến nay, trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét, so sánh và đánh giá.
  4. Nghiên cứu, phân tích, so sánh quy định về các tội XPTD trong BLHS một số nước trên thế giới và rút ra những bài học kinh nghiệm lập pháp.
  5. Phân tích các quy định của BLHS năm 1999 về các tội XPTD, làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) của các tội này, trên cơ sở đó so sánh và chỉ ra những bất cập về mặt lập pháp hình sự.
  6. Phân tích thực tiễn xét xử về các tội XPTD ở nước ta trong 12 năm (2006-2017), đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế về pháp luật cũng như về thực tiễn áp dụng pháp luật và chỉ ra nguyên nhân cần khắc phục.
  7. Đề xuất, kiến nghị việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS năm 2015 về các tội XPTD và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này trong thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội XPTD; các vấn đề lý luận liên quan; thực tiễn xét xử trong 12 năm (2006-2017) tại Việt Nam; và kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới về nhóm tội này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Tập trung vào những vấn đề tội phạm, hình phạt và thực thi pháp luật đối với 6 tội danh xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm tình dục của con người được quy định tại Chương XII BLHS năm 1999: Tội hiếp dâm (Điều 111), Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112), Tội cưỡng dâm (Điều 113), Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114), Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115) và Tội dâm ô với trẻ em (Điều 116). Luận án không nghiên cứu tất cả các tội phạm liên quan đến tình dục; các khía cạnh xã hội học, tội phạm học chỉ được sử dụng làm tư liệu hỗ trợ giải quyết vấn đề luật hình sự.
    • Không gian: Phạm vi toàn quốc.
    • Thời gian: Dữ liệu thực tiễn xét xử được thu thập và đánh giá trong 12 năm (từ năm 2006 đến năm 2017).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm cứu toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm tiếp cận:

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Tiếp cận dưới góc độ luật hình sự:
    • Giáo trình đào tạo: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Tập 2 (Trường Đại học Luật Hà Nội); Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội); Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm (Quyển 1 và 2, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh); các giáo trình chuyên khảo do PGS. Lê Văn Cảm, GS. Võ Khánh Vinh, TS. Cao Thị Oanh chủ biên.
    • Sách chuyên khảo, tham khảo và bình luận khoa học: Công trình của Bộ Tư pháp (về các tội tham nhũng, ma túy và tình dục đối với người chưa thành niên); Nguyễn Ngọc Điệp và Đoàn Tấn Minh; Đinh Văn Quế (bình luận khoa học BLHS và bình luận án); Uông Chu Lưu (chủ biên bình luận khoa học BLHS); Nguyễn Ngọc Hòa (Mô hình LHS Việt Nam); Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (Định tội danh); Trần Văn Luyện; Trịnh Tiến Việt (Tội phạm và TNHS); Bùi Anh Tuấn và Hồ Thị Nệ.
    • Đề tài khoa học: Công trình của Lương Khải Ân (nghiên cứu pháp luật hình sự và thực tế xét xử tội lạm dụng tình dục trẻ em); Lê Quốc Hoàng (chính sách hình sự về tội XPTD trẻ em); Đoàn Thị Thu Nga và Trần Thị Mỹ Dung (nghiên cứu các tội XPTD trẻ em năm 2005).
    • Bài viết tạp chí chuyên ngành: Các nghiên cứu của Dương Tuyết Miên (1998), Phạm Mạnh Hùng (2002), Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Đỗ Đức Hồng Hà (2010). Về tội hiếp dâm, có chuỗi bài viết tranh luận vụ án Nguyễn Văn S trên Tạp chí TAND (2004-2005) của các tác giả Lưu Thị Thu Hiền, Phạm Thanh Hải, Nguyễn Đức Lực, Nguyễn Chí Công, Đỗ Thanh Huyền, Nguyễn Thành Lâm, Nguyễn Văn và Ban biên tập Tạp chí TAND; cùng các bài viết nghiên cứu lý luận của Nguyễn Hiển Khanh, Đỗ Việt Cường, Đặng Xuân Nam, Bùi Thị Quyên, Dương Tuyết Miên và Bùi Thị Quyên, Trần Quang Thái. Về các tội danh khác, có bài viết của Nguyễn Khắc Hải, Phạm Văn Nhớ, Ngô Văn Nhạc.
  • Tiếp cận dưới góc độ tội phạm học:
    • Luận án tiến sĩ của Lê Hữu Du (nghiên cứu đấu tranh phòng chống tội hiếp dâm trẻ em ở Việt Nam giai đoạn 2007-2013).
    • Luận văn thạc sĩ của Lê Văn Tình (địa bàn tỉnh Đồng Nai), Lưu Hải Yến (địa bàn TP. Hà Nội).
    • Sách và bài báo chuyên đề của Trần Mạnh Đạt (2008), Nguyễn Xuân Yêm (1999), Nguyễn Hải Hữu (2012), Trần Hằng và Tuấn Hương (2012), Cục Chăm sóc bảo vệ trẻ em thuộc Bộ LĐ-TB&XH (2014).
  • Tiếp cận dưới góc độ xã hội học:
    • Đề tài nghiên cứu của Nguyễn Thu Hương (2005, do Quỹ Toyota tài trợ); kỷ yếu hội thảo của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (1997).
    • Sách chuyên khảo của Hà Anh (2006), Nguyễn Thu Hương (2008, 2009), Đào Xuân Dũng (2006).
    • Các bài viết, bài báo chuyên đề của Dương Tuyết Miên (2005), Hồ Đắc Duy (2007), Hồng Nhung, Quang Minh (2004), Thùy Thảo (2009), Lữ Huyền Phố (2012).

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Tiếp cận dưới góc độ luật hình sự:
    • Joel Samaha (2005, Criminal law, eight edition, Đại học Minnesota) nghiên cứu sự phát triển của pháp luật hiện đại về tội phạm tình dục, mở rộng chủ thể và chuyển trọng tâm từ bạo lực thể xác sang sự không đồng thuận.
    • Louise A. Jackson (2000, Child sexual abuse in Victorian England) phân tích định nghĩa pháp lý và phương pháp phát hiện lạm dụng tình dục trẻ em.
    • Stephen Smallbone, Bill Marshall, Richard Wortley nghiên cứu chứng cứ, chính sách và thực tiễn phòng ngừa lạm dụng tình dục trẻ em tại Anh.
    • Patricia A. Resick và Monica K. (1998) nghiên cứu nhận thức tâm lý của nạn nhân bị hiếp dâm.
    • Ariane Reinhart (1999, Thụy Sĩ) và Elaine Landau (1993, Hoa Kỳ) nghiên cứu về hành vi quấy rối tình dục dưới khía cạnh pháp lý và thực tiễn công sở.
    • Carla Van Dam; Karen M. Staller và Kathleen Coulborn Faller (2009) nghiên cứu trách nhiệm chứng minh và mô hình tư pháp đối với xâm hại tình dục trẻ em.
    • Gangrade K.D. và Sooryamoorth R. nghiên cứu tội hiếp dâm trẻ em tại Ấn Độ; Elizabeth Gray (1998) nghiên cứu tính hợp hiến của hình phạt tử hình đối với tội hiếp dâm trẻ em tại Hoa Kỳ.
    • Các bài báo khoa học trên các tạp chí pháp lý quốc tế: Georgetown Journal of Gender and the Law, Canadian Journal of Law and Jurisprudence, Georgia State University Law Review.
  • Tiếp cận dưới góc độ tội phạm học và xã hội học:
    • Diana E. Russell và Rebecca M. (2000) nghiên cứu thực trạng hiếp dâm và lạm dụng tình dục tại Mỹ; Kurt M. Bumby (2012) phân tích nhận thức sai lệch của người phạm tội tình dục; Linda Richter, Andrew Dawes và Craig Higson-Smith (2005) khảo cứu tình trạng tại Nam Phi.
    • Melanie Reinke (2002, Đức) nghiên cứu bảo vệ trẻ em trong bối cảnh đa văn hóa; Freda Briggs (1995, Úc) phân tích cơ chế chuyển hóa tâm lý từ nạn nhân thành người phạm tội; Martin A. Finkel và Angelo P. Giardino (2001) xây dựng tài liệu giám định y khoa; R. Kim Oates nghiên cứu phục hồi tâm lý trẻ em; Khuất Thu Hồng, Lê Bách Dương, Nguyễn Ngọc Hường và Bryan Strong, Christine DeVault, Barbara W. Yarber (2005) nghiên cứu về tình dục dưới góc độ bản năng và xã hội học.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình nêu trên phần lớn tiếp cận đơn lẻ theo từng tội danh (chủ yếu là tội hiếp dâm), giới hạn đối tượng nạn nhân là trẻ em, hoặc thuần túy xem xét dưới góc độ tội phạm học, xã hội học. Luận án lựa chọn giải quyết một cách bao quát toàn bộ nhóm các tội XPTD dưới góc độ khoa học luật hình sự; phân tích các dấu hiệu cấu thành pháp lý của cả 6 tội danh trong BLHS năm 1999; tổng kết thực tiễn xét xử xuyên suốt giai đoạn 2006-2017; khảo cứu tiến trình lịch sử lập pháp Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế để đưa ra hệ thống kiến nghị sửa đổi BLHS năm 2015 và các giải pháp thực thi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận chung: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp; lý luận chung về tội phạm và trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự Việt Nam.
  • Khái niệm tác giả xây dựng: "Các tội XPTD là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục của con người, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, trái PLHS và phải chịu hình phạt tương xứng."
  • Bốn đặc điểm cơ bản của nhóm tội:
    1. Khách thể: Xâm phạm quyền bất khả xâm phạm và quyền tự do tình dục của con người (đối với nạn nhân dưới 13 tuổi, sự đồng thuận không loại trừ tính chất xâm phạm).
    2. Mặt chủ quan: Luôn được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục.
    3. Chủ thể: Đa dạng về giới tính (nam giới, nữ giới, cộng đồng LGBT) và độ tuổi (độ tuổi chịu TNHS phù hợp từ đủ 14 tuổi trở lên).
    4. TNHS và hình phạt: Nghiêm khắc nhưng mang tính đặc thù; bên cạnh hình phạt tù cần áp dụng các hình phạt bổ sung và biện pháp tư pháp (lao động công ích, quản chế, cấm tiếp xúc) do hành vi có thể bắt nguồn từ bản năng bộc phát khi bị kích thích.
  • Năm cơ sở quy định các tội XPTD:
    1. Yêu cầu bảo vệ quyền con người (Hiến pháp 2013, Tuyên ngôn UDHR 1948).
    2. Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm trật tự an toàn xã hội (trước sự gia tăng, thủ đoạn tinh vi, hậu quả nặng nề về thể chất, tâm lý và xã hội).
    3. Yêu cầu bảo vệ đạo đức và văn hóa xã hội (ngăn chặn sự suy đồi đạo đức, tội phạm loạn luân).
    4. Năng lực điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng (tính chất dễ tiêu hủy của dấu vết sinh học, tâm lý che giấu của nạn nhân, hiện tượng tổn thương kép).
    5. Yêu cầu hội nhập quốc tế (thực thi Điều 6 Công ước CEDAW 1979, Điều 9 Công ước Quyền trẻ em 1989, ICCPR, ICESCR).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng trong toàn bộ các chương nhằm làm rõ nội hàm khái niệm, các yếu tố cấu thành tội phạm, bản chất quy phạm pháp luật hình sự trong nước và quốc tế, cũng như thực trạng áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu các nguồn sử liệu pháp luật hình sự qua các thời kỳ phong kiến và các giai đoạn lập pháp hình sự Việt Nam tại Chương 1 và Chương 2.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm khoa học, chỉ ra các đặc điểm mang tính quy luật của hệ thống pháp luật thực định và thực tiễn xét xử.
  • Phương pháp thống kê, khảo sát án điển hình: Tổng hợp, xử lý các số liệu xét xử sơ thẩm của hệ thống TAND trên toàn quốc trong 12 năm (2006-2017) tại Chương 3; phân tích các vụ án cụ thể để đánh giá tính chuẩn xác trong định tội danh và áp dụng hình phạt.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy phạm về tội phạm tình dục của BLHS Việt Nam với pháp luật hình sự một số quốc gia tại Chương 2 nhằm rút ra kinh nghiệm lập pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp luật quốc tế và trong nước: UDHR (1948), CEDAW (1979), Công ước Quyền trẻ em (1989); Hiến pháp năm 2013; BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Trẻ em năm 2016.
  • Dữ liệu thực tiễn: Các bản án, quyết định hình sự của TAND các cấp; báo cáo thống kê định kỳ và báo cáo tổng kết của TANDTC giai đoạn 2006-2017; số liệu thống kê của Cục Cảnh sát hình sự (C45), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
  • Số liệu quốc tế: Thống kê của Hiệp hội Quốc gia Phòng chống Bạo hành trẻ em (NSPCC) và Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 thực hiện tổng thuật chi tiết toàn bộ các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến các tội XPTD ở trong nước và nước ngoài theo ba góc độ: luật hình sự, tội phạm học và xã hội học. Tác giả chỉ ra các thành tựu của các giáo trình, sách chuyên khảo (Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản, Đinh Văn Quế, Nguyễn Ngọc Hòa...), các bài viết giải quyết tranh luận thực tiễn (tiêu biểu là chuỗi bài về vụ án Nguyễn Văn S xét xử về tội giết người hay hiếp dâm). Đồng thời, chương này phân tích các nghiên cứu quốc tế về chuẩn mực chứng cứ, quấy rối tình dục, xử lý lạm dụng tình dục trẻ em. Tác giả kết luận các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở từng tội danh riêng lẻ hoặc phân tích dưới góc nhìn xã hội, từ đó khẳng định tính cấp thiết của việc thực hiện một công trình luận án tiến sĩ nghiên cứu toàn diện hệ thống các tội XPTD trong luật hình sự Việt Nam.

Chương 2: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự

Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Xây dựng định nghĩa khoa học về các tội XPTD; phân tích 4 đặc điểm cốt lõi gồm: khách thể bảo vệ (quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục), mặt chủ quan (lỗi cố ý trực tiếp), chủ thể (nam giới, nữ giới, cộng đồng LGBT từ đủ 14 tuổi) và tính chất đặc thù của trách nhiệm hình sự.
  • Luận giải 5 cơ sở quy định các tội XPTD: bảo vệ quyền con người, phòng chống tội phạm, bảo vệ đạo đức truyền thống, năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng và yêu cầu hội nhập quốc tế.
  • Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội XPTD từ thời phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ) qua các giai đoạn 1945-1985, BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999, làm rõ các giá trị pháp lý mang tính kế thừa.
  • Nghiên cứu so sánh quy định về tội phạm tình dục trong luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới, phân tích xu hướng mở rộng nội hàm hành vi giao cấu, hình sự hóa hành vi quấy rối tình dục và phi giới tính hóa chủ thể/nạn nhân của tội phạm tình dục.

Chương 3: Các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm tình dục và thực tiễn xét xử

Chương 3 là phần nghiên cứu thực chứng và quy phạm trọng tâm của luận án:

  • Phân tích chi tiết 4 yếu tố cấu thành tội phạm của 6 tội danh quy định tại Chương XII BLHS năm 1999: Điều 111 (Tội hiếp dâm), Điều 112 (Tội hiếp dâm trẻ em), Điều 113 (Tội cưỡng dâm), Điều 114 (Tội cưỡng dâm trẻ em), Điều 115 (Tội giao cấu với trẻ em) và Điều 116 (Tội dâm ô với trẻ em).
  • Khảo sát thực tiễn xét xử 12 năm (2006-2017) trên phạm vi cả nước. Luận án phân tích các số liệu xét xử sơ thẩm của TAND các cấp, đối chiếu với số liệu của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
  • Chỉ ra các bất cập lập pháp và sai sót thực tiễn: vướng mắc trong định tội danh (ranh giới giữa hiếp dâm và cưỡng dâm, dấu hiệu hành vi giao cấu), quyết định mức hình phạt chưa tương xứng, vấn đề bỏ lọt hành vi quấy rối tình dục và dâm ô đối với người trưởng thành; những khó khăn trong thu thập chứng cứ sinh học và nguy cơ nạn nhân bị tổn thương kép trong quá trình tố tụng.
Chỉ số / Tiêu chí thực tiễn Dữ liệu thống kê được ghi nhận trong văn bản Nguồn dữ liệu
Số vụ xét xử sơ thẩm trung bình hàng năm (2006-2017) 1.624 vụ / năm Thống kê Tòa án nhân dân tối cao
Số bị cáo xét xử sơ thẩm trung bình hàng năm (2006-2017) 1.845 bị cáo / năm Thống kê Tòa án nhân dân tối cao
Tần suất phát sinh trẻ em bị xâm hại tình dục tại Việt Nam Trung bình 8 giờ có 1 trẻ em (3 trẻ em / ngày) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Tỷ lệ thủ phạm có mối quan hệ quen biết với nạn nhân 93% Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Tỷ lệ kẻ xâm hại là họ hàng, người trong gia đình nạn nhân 47% (bao gồm bố đẻ, bố dượng, anh ruột) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Độ tuổi trung bình của trẻ em bị xâm hại tình dục (quốc tế) 9 tuổi Hiệp hội NSPCC
Tỷ lệ trẻ em bị xâm hại tình dục theo giới tính (quốc tế) 1/4 bé gái; 1/6 bé trai Hiệp hội NSPCC
Tỷ lệ người từng bị xâm hại tình dục trên toàn thế giới 1/5 nữ giới; 1/7 nam giới; 30% từng bị cưỡng bức Báo cáo Quỹ Nhi đồng LHQ (UNICEF)

Chương 4: Yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm tình dục và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng

Chương 4 đưa ra các luận cứ hoàn thiện chính sách hình sự:

  • Phân tích bối cảnh cải cách tư pháp và đánh giá những điểm sửa đổi, bổ sung của BLHS năm 2015 đối với nhóm tội XPTD; chỉ ra những điểm còn chưa triệt để giữa quy định mới với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm.
  • Đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015: chuẩn hóa khái niệm các hành vi quan hệ tình dục khác, xử lý các khoảng trống về hành vi dâm ô đối với người lớn và quấy rối tình dục, điều chỉnh quy định về độ tuổi chủ thể và phân hóa hình phạt.
  • Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn: nâng cao chất lượng hoạt động giám định y khoa và thu thập chứng cứ sinh học; ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; thiết lập cơ chế bảo vệ nạn nhân và gia đình nhằm giảm thiểu tỷ lệ tội phạm ẩn và tránh gây tổn thương kép trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng định nghĩa khoa học hoàn chỉnh về các tội XPTD; làm rõ nội hàm khách thể, mặt chủ quan, chủ thể và tính chất đặc thù của trách nhiệm hình sự đối với nhóm tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam.
  • Hệ thống hóa toàn diện và có thứ tự thời gian lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các tội XPTD từ thời phong kiến đến thời kỳ đổi mới, rút ra các giá trị kế thừa cần thiết cho lập pháp đương đại.
  • Tổng hợp và phân tích so sánh kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới, cung cấp cơ sở khoa học cho việc nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về bảo vệ quyền con người và quyền tự do tình dục.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Tổng kết bức tranh thực tiễn xét xử các tội XPTD của TAND các cấp trong suốt 12 năm (2006-2017) thông qua hệ thống số liệu chính thức; chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến sai sót trong định tội danh và áp dụng hình phạt.
  • Đề xuất hệ thống kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhằm lấp đầy các khoảng trống pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm.
  • Kiến nghị các giải pháp thực thi đồng bộ: cải thiện quy trình thu thập, bảo quản chứng cứ sinh học; nâng cao năng lực tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán; áp dụng các biện pháp tư pháp và hình phạt bổ sung đặc thù; xây dựng cơ chế tố tụng thân thiện để bảo vệ nạn nhân là phụ nữ và trẻ em.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Về phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự đối với 6 tội danh xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm tình dục theo Chương XII BLHS năm 1999; không nghiên cứu tất cả các hành vi vi phạm khác liên quan đến tình dục.
  • Về phạm vi dữ liệu: Dữ liệu thực tiễn xét xử của hệ thống TAND được giới hạn trong khoảng thời gian 12 năm từ năm 2006 đến năm 2017; các tư liệu xã hội học và tội phạm học chỉ được khai thác ở mức độ bổ trợ, không đi sâu vào giải pháp xã hội học thuần túy.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về các tội XPTD sau khi bộ luật có hiệu lực thi hành đầy đủ trên thực tế.
  • Mở rộng nghiên cứu liên ngành giữa luật hình sự, tội phạm học và tâm thần học tư pháp về cơ chế điều trị tâm lý, kiểm soát hành vi đối với người phạm tội tình dục và chương trình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị xâm hại.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực tiễn xét xử phục vụ việc giải thích pháp luật, xây dựng các nghị quyết hướng dẫn thi hành BLHS năm 2015, cũng như chuẩn bị các định hướng sửa đổi, bổ sung pháp luật hình sự trong tương lai.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án): Là tài liệu tham khảo cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán trong việc phân tích các dấu hiệu cấu thành tội phạm, định tội danh chính xác, đánh giá chứng cứ sinh học và quyết định hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm của tội phạm.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: Phục vụ trực tiếp cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học, chuyên ngành Luật hình sự, Tố tụng hình sự và Tội phạm học tham khảo về phương pháp tiếp cận nghiên cứu lịch sử lập pháp, luật học so sánh và phân tích thực tiễn xét xử.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự như thế nào?

Theo luận án: "Các tội XPTD là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục của con người, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, trái PLHS và phải chịu hình phạt tương xứng."

2. Phạm vi 6 tội danh cụ thể theo Bộ luật Hình sự năm 1999 mà luận án nghiên cứu là những tội nào?

Luận án nghiên cứu 6 tội danh tại Chương XII BLHS năm 1999 gồm:

  • Tội hiếp dâm (Điều 111)
  • Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112)
  • Tội cưỡng dâm (Điều 113)
  • Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114)
  • Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115)
  • Tội dâm ô với trẻ em (Điều 116)

3. Thực tiễn xét xử sơ thẩm các tội xâm phạm tình dục giai đoạn 2006-2017 tại Việt Nam có số liệu cụ thể ra sao?

Theo số liệu thống kê của TANDTC được luận án dẫn dụng, trong giai đoạn 12 năm (2006-2017), trung bình mỗi năm TAND các cấp trên cả nước đã xét xử sơ thẩm 1.624 vụ án với 1.845 bị cáo, số lượng các vụ án có xu hướng gia tăng đáng kể qua các năm.

4. Vì sao hành vi quan hệ tình dục có sự đồng thuận của người dưới 13 tuổi vẫn bị xử lý hình sự về tội xâm phạm tình dục?

Luận án giải thích rằng ở độ tuổi dưới 13, nạn nhân chưa hoàn thiện về cả thể chất lẫn tâm lý nên sự đồng thuận chưa chín chắn. Việc quan hệ tình dục trực tiếp xâm hại đến sức khỏe và sự phát triển tự nhiên của nạn nhân; người phạm tội có đầy đủ khả năng nhận thức được tính chất xâm hại này nên hành vi đó vẫn cấu thành tội phạm XPTD.

5. Những khó khăn đặc thù nào trong việc thu thập chứng cứ và xử lý các tội xâm phạm tình dục được tác giả chỉ ra?

Luận án chỉ ra ba khó khăn chính:

  • Dấu vết sinh học và chứng cứ hiện trường dễ bị hủy hoại hoặc mất đi nếu không thu giữ kịp thời; tâm lý nạn nhân sau khi bị xâm hại thường tự vệ sinh cá nhân ngay, làm mất dấu vết tội phạm.
  • Nạn nhân và gia đình thường chịu rào cản tâm lý sợ hãi, xấu hổ, mặc cảm hoặc bị đe dọa nên có xu hướng che giấu việc bị xâm hại, dẫn đến tỷ lệ tội phạm ẩn cao.
  • Nạn nhân có nguy cơ chịu tổn thương kép khi vừa phải gánh chịu hậu quả từ hành vi phạm tội, vừa phải trải qua quá trình tố tụng chứng minh tội phạm đầy áp lực.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam" là công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về nhóm tội phạm xâm phạm quyền bất khả xâm phạm và tự do tình dục của con người. Tác giả đã làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, lịch sử lập pháp, kinh nghiệm so sánh quốc tế và phân tích cụ thể 4 yếu tố cấu thành của 6 tội danh XPTD theo BLHS năm 1999. Thông qua việc phân tích thực chứng số liệu xét xử 12 năm (2006-2017) của hệ thống TAND, luận án đã chỉ ra các tồn tại lập pháp và hạn chế thực tiễn, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện BLHS năm 2015 và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử.