Chương I: Pháp luật với việc tổ chức và hoạt động của Toà án Nhân dân ở nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào. Chương II: Pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào. Chương III: Những biện pháp co bản để hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay. PHÁP LUẬT VỚI VIỆC TỔ CHỨC VÀ HOẠT DONG CUA TOA ÁN NHÂN DÂN Ở NƯỚC CONG HOA DAN CHỦ NHÂN DAN LAO 1.
PHÁP LUẬT VỚI VIỆC XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ, CHỨC NĂNG CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DAN LAO. Để thực hiện chức năng của minh, Nha nước sử dung các phương pháp và hình thức hoạt động khác nhau. Các nhà nước thường có 3 hình thức hoạt động chính là: Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp với hai phương pháp cơ bản là thuyết phục và cưỡng chế. Nhà nước thiết lập ra một bộ máy bao gồm một hệ thống các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến cơ sở để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.
Chức năng của Nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan trong bộ máy đó. Mặt khác, mỗi cơ quan Nhà nước lại có chức năng riêng nhằm thực hiện chức năng của cả bộ máy Nhà nước. Vì thế không nên lẫn lộn giữa các chức năng đó với nhau. Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nhân dân yêu nước các bộ tộc Lao qua nhiều thập ký.
Chính thể Cộng hòa dân chủ nhân dân đã được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc ngày 2/12/1975 chính thức lựa chọn là hình thức tổ chức Nhà nước kiểu mới, Nhà nước của dân, do dan và vì dan. Nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng củng cố và hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân. Nhà nước cách mạng đầu tiên của chế độ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào được tổ chức hoạt động theo cơ chế: "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chu". Các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị gồm có: Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng.
Trong đó cấu trúc Nhà nước là bộ phận lớn nhất. Cơ cấu cơ quan quyền lực Nhà nước đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và thông qua ngày 2/12/1975 gồm có: + Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. + Hội đồng nhân dân tối cao (Quốc hội). + Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ).
* Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, là người tượng trưng cho sự đoàn kết thống nhất các bộ tộc trên cả nước, là người thay mặt nhân dân trong quan hệ quốc tế, đồng thời cũng là Chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. * Hội đồng nhân dân tối cao (Quốc hội): Hội đồng nhân dân tối cao đầu tiên của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra gồm có 45 thành viên (trong đó có 4 thành viên nữ), một chủ tịch và phó chủ tịch, một tổng thư ký thường trực. Chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao đồng thời cũng là Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Hệ thống tổ chức của Hội đồng nhân dân đầu tiên của Cộng hòa dân chủ nhân dan Lao được thiết lập theo 4 cấp sau đây: - Hội đồng nhân dân tối cao (Quốc hội); Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố; Hội đồng nhân dân huyện và Hội đồng nhân dân xã.
Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương do nhân dân địa phương bầu cử và bãi miễn. Qua thực hiện nhiệm vụ của mình gần 14 năm, Hội đồng nhân dân tối cao khóa đầu tiên đã hết nhiệm kỳ (26/3/1989), được thay bằng Hội đồng nhân dân tối cao khóa II do công dân Lào toàn quốc trực tiếp bầu cử. Hội đông nhân dân tối cao khóa này ngoài Chủ tịch, Phó Chủ tịch còn có Uỷ ban thường vụ và các ban phụ trách các lĩnh vực quan trọng của đất nước, trong đó có ban phụ trách pháp luật. Chủ tịch Hội đồng nhân dân tối cao khóa II không kiêm chức Chủ tịch nước như khóa trước, chỉ phụ trách chức vụ chính của mình là cơ quan lập pháp tối cao, tức Hội đồng nhân dân tối cao có vai trò trọng yếu là chuyển đường lối đổi mới do Đảng nhân dân cách mạng Lào khởi xướng thành Hiến pháp đầu tiên của chế độ Cộng hòa dân chủ nhân dân Lao va ban hành một số luật mới.
Hệ thống tổ chức Hội đồng nhân dân Lào khoá này chỉ có 3 cấp: Hội đồng nhân dân tối cao; Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố; Hội đồng nhân dân huyện. * Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ): Hội đồng Bộ trưởng - Chính phủ đầu tiên của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào cũng do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu và thông qua gồm 39 thành viên, trong đó có một Thủ tướng và 4 Phó Thủ tướng. Người đứng dau Hội đồng Bộ trưởng, đồng thời cũng là Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Hội đồng Bộ trưởng với tư cách là cơ quan hành pháp của Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
* Chính quyền địa phương: Ở địa phương hệ thống chính quyền quản lý hành chính lãnh thổ là Uỷ ban nhân dân các cấp: Uy ban nhân dan tỉnh, thành phố: Uỷ ban nhân dân huyện; Uỷ ban nhân dân xã; Uỷ ban nhân dân cấp bản làng. Chủ tịch chính quyền địa phương các cấp không do Bí thư cấp uỷ Đảng các cấp kiêm nhiệm, tức là có Chủ tịch và Bí thư riêng. * Cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân): Sau khi nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ra đời, hệ thống bộ máy quyền lực Nhà nước do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu, Tòa án nhân dân là một bộ phận trong hệ thống cơ quan tư pháp nằm trong hệ thống bộ máy Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Để đảm bảo cho việc quản lý Nhà nước, xã hội có trật tự, kỷ cương và việc thực thi quyền làm chủ của nhân dân, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Pháp lệnh số 53 ngày 15/10/1976 về hệ thống tổ chức hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và các quy trình, nguyên tắc thi hành án.
Theo nguyên tắc hoạt động của Toà án nhân dân được quy định tại pháp lệnh số 53 ngày 15 tháng 10 năm 1976 của Thủ tướng chính phủ Lào thì Toa án nhân dân thực hiện chế độ xét xử tập thể và quyết định theo đa số, Hội đồng xét xử của Toà án cấp huyện gồm có 3 thành viên do trưởng phòng tư pháp huyện là chủ toa phiên toà và 2 hội thẩm nhân dân là thành viên, khi tiến hành xét xử các thành viên trong Hội đồng xét xử có quyền ngang nhau. Ngoài ra, còn có thư ký phiên toà được chỉ định từ cán bộ của Phòng tư pháp huyện và công tố viên tham gia. Đối với Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố cũng thực hiện như Hội đồng xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện nhưng chủ toa phiên toà là Phó giám đốc sở tư pháp tinh đảm nhiệm. Con đối với các thành phần của Hội đồng xét xử của Toà phúc thâm cấp tỉnh, thành phố thì gồm có 5 thành viên trong đó gồm có I thẩm phán là chủ toạ phiên toà và 4 Hội thẩm nhân dân là thành viên.
Chủ toa phiên toà do giám đốc sở tư pháp tỉnh, thành phố giữ quyền đảm nhiệm. Đối với Toà án đặc biệt được thành lập để xét xử các vụ án đặc biệt là có thẩm quyền xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm có hiệu lực thi hành ngay. Trong pháp lệnh số 53 ngày I5 tháng 10 năm 1976 của Thủ tướng chính phủ Lào còn quy định là việc xét xử của Toà án phải công khai bởi lẽ để tạo điều kiện và cơ hội cho nhân dân thực hiện quyền kiểm soát hoạt động của Toà án và nhận thức được sự công bằng trong xã hội đồng thời nhằm mục đích thuyết phục giáo dục nhân dân một cách rộng rãi. Hệ thống tổ chức Toà án nhân dân trong những năm đầu của chế độ Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào gồm có: Toà án nhân dân cấp huyện; tỉnh, thành phố ( riêng tỉnh , thành phố có 2 cấp của Toà án là Toà sơ thẩm và Toà phúc thẩm); và ở cấp trung ương là tạm thời thuộc phạm vi trách nhiệm của Bộ tư pháp.
Đối với việc thành lập Toà án cấp trung ương phải có sự phê duyệt của Hội đồng bộ trưởng. Toà án trung ương có thẩm quyền xét xử và có hiệu lực tuyệt đối đối với mọi vụ án mà Toà án tỉnh, thành phố đã xét xử từ 10 năm tù đến tử hình. Toà án trung ương gồm có | chánh án, 2 hội thẩm nhân dan chuyên môn, 4 hội thẩm nhân dan không thường trực, thư ký phiên toà và một kiêm sát viên cao cấp. 10 Giai đoạn 1983 đến 1989, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã trực thuộc Hội đồng nhân dân tối cao theo quyết định số 01 /83 ngày 11 thang 10 năm 1983 và quyết định số 74 ngày 30 tháng lI năm 1983 về quy chế tạm thời đối với Tòa án nhân dân của Hội đồng nhân dân tối cao, còn Toà án tỉnh, thành phố và Toà án huyện vẫn trực thuộc Bộ tư pháp.
Trong giai đoạn này Hội đồng nhân dân tối cao và Bộ tư pháp đã rút kinh nghiệm từ công tác tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp ở trung ương cũng như ở địa phương đồng thời đã chú trọng trong công tác xây dựng hệ thống pháp luật nhằm tăng cường quản lý Nhà nước, và quản lý xã hội, tình hình phát triển về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội ở Lào đặc biệt là sau khi Đảng nhân dân cách mạng Lào và Nhà nước Lào đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đã đòi hỏi phải xây dựng các văn bản pháp luật để đảm bảo cho việc phát huy dân chủ và bình đằng trong Nhà nước và toàn xã hội Lào.