chương I tại chương II của đề tài nhóm nghiên cứu đã đi sâu, phân tích toàn diện về: Thực trạng nhận thức QTP; Thực trạng cơ sở pháp lý thực hiện QTP và thực trạng tổ chức thực hiện QTP trên một số phương diện đặc biệt trong đó có đề tài phân tích làm rõ thực trạng QTP trong mối quan hệ (phân công, phối hợp và kiểm soát) với quyền lập pháp và quyền hành pháp; quy định và thực tiễn đảm bảo nguyên tắc độc lập của TA và thực trạng thực hiện liên quan đến quyền tiếp cận công lí của người dân [89]. Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mã số KX04- 28/06-10 do GS.TS Trần Ngọc Đường làm chủ nhiệm, năm 2010. Đề tài làm rõ lý luận về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong lịch sử nhân loại, xây dựng lý luận về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng NNPQ Việt Nam (Bản chất, đặc điểm phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực). Đồng thời xét ở phương diện thực tiễn đề tài cũng chỉ rõ thực trạng phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước qua các thời kỳ trong đó có quyền lực tư pháp [63]; Đề tài cấp Bộ, Cơ sở pháp lý đảm bảo sự độc lập xét xử của Tòa án trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay do PGS.TS Bùi Nguyên Khánh làm chủ nhiệm, Viện Nhà nước và pháp luật chủ trì năm 2014.
Công trình nghiên cứu trên cơ sở phân tích lí luận về đảm bảo độc lập xét xử của TA đã chỉ rõ thực trạng quy định của Hiến pháp và pháp luật đảm bảo sự độc lập 13 xét xử của TA ở nước ta hiện nay đồng thời có sự đánh giá thực tiễn vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử của TA qua một số vụ việc tiêu biểu [82]; Cuốn sách: “Phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” của TS. Cao Anh Đô, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2013 tác giả đã phân tích sâu sắc mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa cành quyền lực tư pháp với quyền lập pháp, hành pháp và bước đầu có sự phân tích, đánh giá thực trạng của mối quan hệ này [60]. Cuốn sách chuyên khảo: “Bình luận Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013”, do tập thể tác giả thực hiện với sự chủ trì của Viện Chính sách công và pháp luật, Nxb Lao động Xã hội ấn hành. Cuốn sách tập trung làm rõ những điểm mới về các chế định pháp luật tại Hiến pháp 2013 và có sự phân tích, bình luận sâu sắc.
Trong cuốn sách có ít nhất 07 chuyên đề nghiên cứu về các quy định Hiến pháp liên quan đến cách thức tổ chức thực hiện QTP ở Việt Nam hiện nay. Nội dung các chuyên đề nói trên đã làm sáng tỏ cách nhìn nhận mới của Hiến pháp năm 2013 về quyền lực tư pháp: Hiến pháp năm 2013 và việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự vì một nền tư pháp công bằng, nhân đạo, dân chủ, nghiêm minh, trách nhiệm trước nhân dân (PGS. TS Nguyễn Hòa Bình), Quyền tư pháp trong cơ chế quyền lực nhà nước theo Hiến pháp 2013 (GS. TSKH Đào Trí Úc); Những điểm mới trong Hiến pháp 2013 về cải cách tư pháp (GS.TS Trần Ngọc Đường), Tòa án nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 (PGS.TS Trần Văn Độ), Hiến pháp năm 2013 và những định hướng cơ bản cho việc sửa đổi Luật Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (PGS.TS Nguyễn Hòa Bình), Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 2013 (PGS.TS Trương Thị Hồng Hà), Nguyên tắc hai cấp xét xử theo Hiến pháp 2013 (TS.
Các bài viết đem đến cái nhìn mới về QTP theo tinh thần Hiến pháp 2013 đặc biệt có sự phân tích về tính độc lập và vấn đề bảo đảm quyền lực tư pháp ở Việt Nam, về cải cách tư pháp trong xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam và đặc biệt là thực trạng xây dựng nền tư pháp liêm chính ở Việt Nam hiện nay đã được đề cập và luận chứng sâu sắc [129]. Cuốn sách:“Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính”, xuất bản năm 2014 do GS.TS Đào Trí Úc - PGS.TS Vũ Công Giao (đồng chủ biên) của Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội đã tập trung rất nhiều bài viết của các nhà khoa học liên quan đến cải cách tư pháp. Đặc biệt, đáng chú ý có bài viết của GS.TS Đào Trí Úc: “Bản chất, đặc điểm và các nguyên tắc chủ đạo của quyền tư pháp” đã phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện các nguyên tắc chủ đạo về tổ chức và hoạt động của QTP như: nguyên tắc TP độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, 14 nguyên tắc công khai, nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc về quyền tiếp cận công lí. Ngoài ra, bài viết: “Những quy định của Hiến pháp năm 2013 về Tòa án: triển vọng và thách thức với cải cách tư pháp” đã phân tích làm rõ những bất cập, hạn chế trong việc thực hiện các nguyên tắc chung cũng như những nguyên tắc đặc thù trong thực hiện QTP.
Đây chính là nguồn tư liệu quan trọng giúp nghiên cứu sinh phân tích rõ thực trạng các nguyên tắc pháp lý bảo đảm thực hiện QTP [104]. Cuốn sách: “Công lý và quyền tiếp cận công lý - một số vấn đề lý luận, thực tiễn” của GS.TSKH Đào Trí Úc, PGS.TS Vũ Công Giao (đồng chủ biên), Nxb Hồng Đức, năm 2018. Cuốn sách đã đi sâu phân tích nhiều khía cạnh lý luận về công lý và quyền tiếp cận công lý đặc biệt là thực tiễn quyền tiếp cận công lý. Đây là tư liệu quan trọng giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn toàn diện khía cạnh của nguyên tắc tiếp cận công lý [105].
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Kiểm soát của hành pháp đối với lập pháp và tư pháp ở Việt nam”, Học viện chính trị Quốc gia, Hà Nội tháng 12/2015. Kỷ yếu được chia thành 3 phần: Phần I: Nghiên cứu lý luận về phân quyền ở nước ngoài; Phần II Lý luận và thực tiễn kiểm soát của hành pháp đối với lập pháp và tư pháp ở Việt Nam; Phần III: Ý nghĩa và bài học về kiểm soát của hành pháp đối với lập pháp và tư pháp. Đặc biệt ở phần II đã tập trung nhiều bài viết của các tác giả luật học đánh giá thực trạng kiểm soát hành pháp đối với tư pháp [76]. Luận án: “Quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam” của Nguyễn Hữu Chính, Luận án tiến sĩ Quản lí công, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2020.
Luận án trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và QTP trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam về thể chế, thiết chế và các bảo đảm đã đề xuất các giải pháp hiệu quả trong việc tăng cường quan hệ giữa quyền hành pháp và QTP trong giai đoạn hiện nay [37]. Bài viết:“Hiến pháp năm 2013 với chế định bảo đảm quyền con người về tư pháp hình sự” của TS. Phạm Văn Hùng đăng trên Tạp chí TA nhân dân số 16/2014. Bài viết đã chỉ rõ các giá trị tiến bộ của Hiến pháp năm 2013 khi quy định bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự đặc biệt trong bài viết tác giả đã đề cập nội dung cơ sở pháp lý cũng như thực trạng chế định pháp lý bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự như: Bảo đảm phải được xét xử kịp thời, công bằng, công khai; Bảo đảm được bồi thường thiệt hại; Bảo đảm quyền bào chữa [73].
15 Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng thiết chế thực hiện quyền tư pháp Đề tài cấp Bộ, Cơ sở pháp lý đảm bảo sự độc lập xét xử của Tòa án trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay do PGS.TS Bùi Nguyên Khánh làm chủ nhiệm, Viện Nhà nước và pháp luật chủ trì (2014). Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài trên cơ sở lí luận về đảm bảo độc lập xét xử của TA đã chỉ rõ thực trạng quy định của Hiến pháp và pháp luật đảm bảo sự độc lập xét xử của TA ở nước ta hiện nay đồng thời có sự đánh giá thực tiễn tổ chức, hoạt động của TA qua một số vụ việc tiêu biểu [82]. Cuốn sách: “Tòa án Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, (2012) tác giả Nguyễn Đăng Dung cũng lần lượt phân tích bốn khía cạnh chính biểu hiện của nguyên tắc độc lập TA ở Việt Nam: sự bảo đảm hiến định, tức bảo đảm ở góc độ hiến pháp; bảo đảm ở góc độ thiết chế bên ngoài; bảo đảm ở góc độ thiết chế bên trong và bảo đảm sự độc lập của cá nhân TP [39]. Cuốn sách:“Cải cách tư pháp vì một nền tư pháp liêm chính”, năm 2014 do GS.TS Đào Trí Úc - PGS.TS Vũ Công Giao (đồng chủ biên) của Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội đã tập trung rất nhiều bài viết của các nhà khoa học liên quan đến cải cách tư pháp đặc biệt là bài viết: “Những quy định của Hiến pháp năm 2013 về Tòa án: triển vọng và thách thức với cải cách tư pháp” đã phân tích làm rõ những thuận lợi cũng như những bất cập, khó khăn của TA trong thực hiện QTP [104].
Cuốn sách: “Thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam” của T. Nguyễn Long Hải, năm 2017, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. Cuốn sách được chia làm 5 chương trong đó đã trình bày một cách có hệ thống thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, khái quát hóa quá trình hình thành, phát triển thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước đặc biệt tại chương II, chương III tác giả tập trung đánh giá thực trạng thể chế và việc thực hiện thể chế pháp lý về kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay trên nền tảng Hiến pháp năm 2013 [69]. Hội thảo khoa học: “Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước” năm 2019 của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam TS.