Luận án tiến sĩ nội luật hóa quy định của công ước liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự việt nam

Luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu nội luật hóa quy định của công ước liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai hỏi cung bị, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2021

211
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: Lý luận về nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.1. Khái niệm, đặc điểm của tra tấn

1.2. Khái niệm, đặc điểm của tra tấn trong các văn kiện quốc tế và nghiên cứu nước ngoài

1.3. Khái niệm, đặc điểm của tra tấn theo quan điểm các nhà nghiên cứu Việt Nam

1.4. Khái niệm, đặc điểm của lấy lời khai, hỏi cung bị can

1.4.1. Khái niệm, đặc điểm lấy lời khai

1.4.2. Khái niệm, đặc điểm hỏi cung bị can

1.5. Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.5.1. Khái niệm nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.5.2. Nguyên tắc nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.5.3. Ý nghĩa nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: Đánh giá quy định về lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ tố tụng hình sự Việt Nam so với quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn

2.1. Quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn về nghĩa vụ của quốc gia thành viên phòng ngừa tra tấn có liên quan đến lấy lời khai, hỏi cung bị can

2.2. Những kết quả đạt được trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về lấy lời khai, hỏi cung bị can so với Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn

2.3. Những hạn chế trong quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về lấy lời khai, hỏi cung bị can so với Công ước Liên Hợp quốc về Chống tra tấn

3. CHƯƠNG 3: Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam so với quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn

3.1. Những kết quả đạt được trong thực tiễn phòng ngừa tra tấn của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn

3.2. Những hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn

3.2.1. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở nghĩa vụ thứ nhất của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

3.2.2. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở quy định nghĩa vụ thứ ba của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

3.2.3. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở nghĩa vụ thứ tư của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

3.2.4. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở nghĩa vụ thứ năm của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

3.2.5. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở nghĩa vụ thứ sáu của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn

4. CHƯƠNG 4: Kinh nghiệm lập pháp nước ngoài về nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can

4.1. Cơ sở lựa chọn pháp luật tố tụng hình sự một số quốc gia đã tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn để nghiên cứu học tập kinh nghiệm

4.2. Kinh nghiệm nước ngoài trong việc nội luật hóa quy định Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can

4.2.1. Liên Bang Nga

4.2.2. Cộng Hòa Liên bang Đức

4.2.3. Vương quốc Anh

4.3. Kinh nghiệm lập pháp cho Việt Nam về phòng ngừa tra tấn

5. CHƯƠNG 5: Kiến nghị về nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với quy định lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

5.1. Cơ sở kiến nghị nội luật hóa quy định của Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn đối với quy định về lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

5.2. Một số kiến nghị nội luật hóa quy định của Công ước liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai, hỏi cung bị can trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam

5.2.1. Kiến nghị để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thứ nhất, nghĩa vụ thứ ba, nghĩa vụ thứ năm, nghĩa vụ thứ sáu

5.2.2. Kiến nghị để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thứ tư

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về nội luật hóa công ước chống tra tấn

Nội luật hóa quy định của Công ước chống tra tấn là một bước quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người tại Việt Nam. Công ước này được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vào năm 2014, thể hiện cam kết của quốc gia trong việc ngăn chặn các hành vi tra tấn và đối xử tàn ác. Việc nội luật hóa không chỉ giúp Việt Nam thực hiện nghĩa vụ quốc tế mà còn tạo ra khung pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền lợi của bị cáo trong quá trình tố tụng hình sự. Theo đó, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) cần được điều chỉnh để phù hợp với các quy định của Công ước, nhằm đảm bảo rằng mọi hành vi tra tấn đều bị nghiêm cấm và xử lý kịp thời.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của tra tấn

Tra tấn được định nghĩa là hành vi cố ý gây ra đau đớn hoặc tổn thương cho một cá nhân nhằm thu thập thông tin hoặc để trừng phạt. Theo Công ước Liên hợp quốc, tra tấn không chỉ bao gồm tra tấn thể chất mà còn cả tra tấn tinh thần. Điều này có nghĩa là các hành vi như đe dọa, áp lực tâm lý cũng được coi là tra tấn. Việc hiểu rõ về khái niệm này là cần thiết để xây dựng các quy định pháp lý phù hợp, nhằm bảo vệ quyền lợi của bị cáo trong quá trình hỏi cunglấy lời khai.

II. Nguyên tắc nội luật hóa quy định của Công ước

Nguyên tắc nội luật hóa quy định của Công ước chống tra tấn bao gồm việc đảm bảo rằng các quy định quốc gia không mâu thuẫn với các cam kết quốc tế. Điều này có nghĩa là các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự phải được điều chỉnh để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ quyền con người. Việc áp dụng nguyên tắc này không chỉ giúp tăng cường tính hợp pháp của các quy định mà còn tạo ra một môi trường pháp lý an toàn hơn cho những người bị cáo. Các cơ quan chức năng cần phải được đào tạo để hiểu rõ về các quy định này và thực hiện chúng một cách nghiêm túc.

2.1. Ý nghĩa của việc nội luật hóa

Nội luật hóa quy định của Công ước chống tra tấn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về quyền con người tại Việt Nam. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của bị cáo mà còn tạo ra một nền tảng pháp lý vững chắc để ngăn chặn các hành vi tra tấn. Hơn nữa, việc thực hiện các quy định này sẽ góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam trong mắt cộng đồng quốc tế, khẳng định cam kết của quốc gia trong việc bảo vệ quyền con người.

III. Đánh giá thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn

Thực tiễn áp dụng quy định phòng ngừa tra tấn trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của bị cáo, nhưng việc thực hiện còn thiếu đồng bộ và hiệu quả. Nhiều trường hợp hỏi cunglấy lời khai vẫn diễn ra trong môi trường có thể dẫn đến tra tấn. Cần có các biện pháp cụ thể để đảm bảo rằng mọi hành vi tra tấn đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đồng thời nâng cao vai trò của các cơ quan giám sát trong quá trình tố tụng.

3.1. Những hạn chế trong thực tiễn

Một trong những hạn chế lớn nhất trong thực tiễn là việc thiếu sự giám sát chặt chẽ trong quá trình hỏi cung. Nhiều trường hợp bị cáo không được đảm bảo quyền lợi hợp pháp, dẫn đến nguy cơ tra tấn. Hơn nữa, việc áp dụng các quy định về ghi âm, ghi hình trong quá trình lấy lời khai chưa được thực hiện đầy đủ, tạo ra khoảng trống pháp lý cho các hành vi vi phạm. Cần có các biện pháp khắc phục để đảm bảo rằng mọi quy trình tố tụng đều được thực hiện một cách minh bạch và công bằng.

IV. Kinh nghiệm lập pháp nước ngoài

Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia khác trong việc nội luật hóa Công ước chống tra tấn có thể cung cấp những bài học quý giá cho Việt Nam. Nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp hiệu quả để ngăn chặn tra tấn, bao gồm việc thiết lập các cơ chế giám sát độc lập và quy định rõ ràng về quyền lợi của bị cáo trong quá trình tố tụng. Việc tham khảo các mô hình này sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện hơn nữa các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự.

4.1. Kinh nghiệm từ Liên Bang Nga và Đức

Liên Bang Nga và Đức đã có những quy định chặt chẽ về việc ngăn chặn tra tấn trong quá trình tố tụng. Cả hai quốc gia đều yêu cầu ghi âm và ghi hình trong mọi cuộc hỏi cung, đồng thời thiết lập các cơ chế giám sát độc lập để đảm bảo tính minh bạch. Những kinh nghiệm này có thể được áp dụng tại Việt Nam để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tra tấn và bảo vệ quyền lợi của bị cáo.

V. Kiến nghị về nội luật hóa quy định của Công ước

Để nâng cao hiệu quả của việc nội luật hóa quy định của Công ước chống tra tấn, cần có những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự. Các kiến nghị này bao gồm việc bổ sung các quy định về ghi âm, ghi hình trong quá trình hỏi cung, cũng như thiết lập các cơ chế giám sát độc lập để đảm bảo rằng mọi hành vi tra tấn đều được phát hiện và xử lý kịp thời. Hơn nữa, cần tăng cường đào tạo cho các cán bộ thực thi pháp luật về quyền lợi của bị cáo và các quy định của Công ước.

5.1. Các biện pháp cụ thể

Các biện pháp cụ thể cần được thực hiện bao gồm việc xây dựng các quy trình rõ ràng cho việc ghi âm, ghi hình trong quá trình lấy lời khaihỏi cung. Đồng thời, cần thiết lập các cơ chế giám sát độc lập để đảm bảo rằng mọi hành vi tra tấn đều được phát hiện và xử lý kịp thời. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của bị cáo mà còn nâng cao tính minh bạch và công bằng trong quá trình tố tụng.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nội luật hóa quy định của công ước liên hợp quốc về chống tra tấn đối với lấy lời khai hỏi cung bị can trong bộ luật tố tụng hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1. Ngoài ra, toàn văn của bài bình luận về Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn cũng cung cấp bối cảnh lịch sử và phân tích kỹ lưỡng về luật pháp và thực tiễn từ các Tòa án quốc tế và khu vực và các cơ quan giám sát. Các quy định pháp lý liên quan đến các Tòa án trong nước (như của House of Lord trong vụ kiện của Pinochet) cũng như thảo luận về các quy định của các uỷ ban chống tra tấn khi kiểm tra nhà tù. “The Torture Reporting Handbook”10 (tạm dịch, sổ tay báo cáo tra tấn), (2000) của tác giả Camille Giffard.

Đây là tài liệu ghi lại các cáo buộc tra tấn và trả lời các cáo buộc tra tấn trong hệ thống quốc tế bảo vệ quyền con người. Trong tài liệu này đưa ra cách hiểu về tra tấn (What’s Torture) theo quy định tại Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn. Từ quy định của Điều 1 tài liệu đã nêu ra ba vấn đề quan trọng của Tra tấn đó là: Tra tấn phải gây đau đớn về thể chất hoặc tinh thần; được thực hiện bởi người của cơ quan nhà nước hoặc được sự đồng ý của cấp trên; nhằm mục đích lấy thông tin từ người bị tra tấn. Đồng thời cũng đưa ra cách hiểu về đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người sẽ có mức độ đau khổ ít nghiêm trọng (thấp hơn) so với tra tấn.

Các hình thức đối xử được cho là không phải tra tấn khi không được gây ra cho một mục đích cụ thể. Nhưng phải có ý định đưa các cá nhân đến các điều kiện hoặc dẫn đến việc đối xử tệ. Công trình cũng đi đến phân tích nạn nhân của tra tấn có thể là bất kỳ ai: đàn ông, đàn 10 Camille Giffard (2000), The Torture Reporting Handbook, Human Rights Centre, University of Essex. luan an 9 bà, người già, trẻ em, tôn giáo, không có tôn giáo, trí thức hay nông dân đều có thể là nạn nhân của tra tấn và thường tập trung là những người có liên quan đến vấn đề chính trị (bất đồng quan điểm chính trị) phản đối chính quyền, hồi giáo, những người bị buộc tội đang đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự… Đồng thời đưa ra các bằng chứng cho rằng nạn nhân đã bị tra tấn về thể chất (màu sắc da, vết bỏng, bầm tím của bất kỳ thương tích nào….) hoặc tra tấn tinh thần.

Tuy tra tấn tinh thần không để lại bất cứ dấu vết vật lý nào nhưng sẽ để lại những ảnh hưởng tâm lý, tư tưởng sâu sắc cho nạn nhân. Có thể xác định qua tư tưởng, hành vi, nỗi sợ hãi, các cơn ác mộng bị đe dọa giết… Vấn đề này cần phải có một chuyên gia về tâm lý để xác định cụ thể. “A History of Torture,”11 (tạm dịch, lịch sử của tra tấn), (2007), của tác giả Jame Ross cung cấp thông tin về lịch sử về tra tấn và chống tra tấn của nhân loại. Theo tác giả, Tra tấn đã có từ rất xưa, ngay cả trong lý luận và thực tiễn.

Mọi tình huống sử dụng tra tấn để gây đau đớn (cả thể chất và tinh thần) đối với người khác điều bị lên án. Tất cả các ý kiến về chống hành vi tra tấn đều dựa trên cách tiếp cận từ vấn đề từ đạo đức và quyền con người. Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra rằng: mọi ý kiến chống đối tra tấn dường như được tìm thấy trong các nội dung của văn bản pháp lý về quyền con người. Điều này được ông kết luận sau khi nghiên cứu về cách thức sử dụng tra tấn trong lịch sử tư pháp thế giới, bất cứ hình thức tra tấn nào cũng phản ảnh bản chất đi ngược công lý, vô đạo đức và xâm phạm nhân quyền.

“The shape of modern Torture”12 (tạm dịch, hình thức của tra tấn hiện đại), (2005), của tác giả John T. Đây là bình luận của tác giả qua xem xét các cuộc tranh luận quốc tế hiện nay về “tra tấn” trong khuôn khổ quyền lực của Nhà nước hiện đại. Mục tiêu của bình luận này là kết hợp hai cách suy nghĩ về “tra tấn” và các hình thức “cưỡng bách điều tra và thẩm vấn có liên quan”. Phân tích pháp lý về một số vấn đề liên quan đến tra tấn, đặc biệt liên quan đến việc thực hiện diễn ra bất thường (sử dụng vũ lực, chứ không phải là quá trình pháp lý).

“Extraordinary renditions and the protection of human rights”13 (tạm dịch, những đề xuất về bảo vệ quyền con người), (2010), của tác giả Manfred Nowak, Roland Schmidt. Đây là kết quả của cuộc Hội thảo của viện nhân quyền Ludwig Boltsmann tổ chức vào ngày 6,7 tháng 10 năm 2008. Trong đó nêu lên sau hậu quả khủng bố ngày 11/9 tại Mỹ, chính quyền Bush cùng với đồng minh đã bắt cóc các đối tượng bị tình nghi khủng bố mà không theo đúng thủ tục và đưa họ đến những nơi bí mật giam giữ. Tại 11 Kenneth Roth and Minky worden,Amy D.Bernstein ,“A Human Rights Perspective”, (2007), P.

12 Xem https://papers.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=829345. 13 Xem https://bim.at/en/story/volume-20-2010-extraordinary-renditions-and-protection-human-rights. luan an 10 đây, họ đã bị thẩm vấn tăng cường bằng nhiều biện pháp khác nhau. Đây được gọi là những hành vi vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất trong cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố”.

Các nghi phạm đã được vận chuyển trong các máy bay riêng của CIA, không tuân thủ luật hàng không quốc tế và đưa cho các đồng minh sẵn sàng tra tấn. “Does it Make Us Safer? Is it Ever Ok? A Human Right Perspective”14, (tạm dịch, có thật sự làm cho chúng ta an toàn, có bao giờ ổn chưa, quan điểm về nhân quyền), (2007), được biên tập bởi Kenneth Roth và Minky Worden hợp tác xuất bản. Trong cuốn sách này có 12 bài luận của các nhà tư tưởng hàng đầu và các chuyên gia về lịch sử và các lục địa, cung cấp một thăm dò chi tiết của chủ đề tra tấn. Bao gồm Reed Brody trên đường tới Abu Ghraib và “những người bị ma quỷ”; Eitan Felner về kinh nghiệm của Israel; Tom Malinowski về vi phạm “cấm thực hành” của Bộ Ngoại giao tại Abu Ghraib và ở Afghanistan; Kenneth Roth về sự thay đổi của chính phủ Hoa Kỳ từ sự che đậy sang biện minh; Minky Worden về một cuộc khảo sát toàn cầu về các quốc gia đang tra tấn… Tác giả Roth cho rằng các hình thức ngược đãi thường là kênh để dẫn đến tra tấn.

Do đó, tra tấn phải được cấm trong mọi trường hợp, một số câu hỏi chính bao gồm làm thế nào để xác định tra tấn, cho dù tra tấn có hiệu quả hay không và liệu nó có thể chấp nhận được hay không. Thứ ba, các công trình phòng ngừa tra tấn trong lĩnh vực tố tụng hình sự của một số quốc gia Phòng ngừa tra tấn là một trong những yêu cầu đặt ra của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với các quốc gia thành viên khi đã phê chuẩn. Hình thức phòng ngừa bao gồm: quy trình cụ thể quá trình thẩm vấn, quy trình bắt người bị nghi thực hiện tội phạm, tuyên truyền cho các nhân viên thực thi pháp luật để phòng ngừa tra tấn… có thể nêu lên một số công trình như: “A handbook for public officials”15, (tạm dịch, sổ tay cảnh sát), (2008), của tác giả Wayne K. Đây là cẩm nang cung cấp thông tin hướng dẫn pháp luật cho nhân viên thực thi pháp luật làm thế nào để chấm dứt hành vi tra tấn trong công việc thường ngày của họ.

Bên cạnh đó còn nêu lên trách nhiệm bảo vệ quyền con người và sự tôn trọng đối với cá nhân và nêu lên một số vụ việc cụ thể sử dụng quá mức, trái pháp luật để tra tấn nhằm có một lời thú tội hoặc thông tin từ một nghi can trong VAHS. “Police and criminal Evidence Act 14 Kenneth Roth, Minky Worden (2007), “Does it make Us Safer? Is it Ever Ok? A Human right Perspective”, New York.Lemieux (2008), “A handbook for public officials”, United States of America. Đây là đạo luật của quốc hội nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý cho quyền lực của nhân viên Cảnh sát tại Anh chống tội phạm, cũng như cung cấp các quy trình cho việc thực hiện những quyền lực. Khi thực hiện quyền lực đối với trường hợp là người chưa thành niên, đạo luật quy định chi tiết, cụ thể đối với từng hành vi của lực lượng Cảnh sát như: khi bắt giữ người chưa thành niên, việc đầu tiên là nhân viên Cảnh sát phải thông báo với cha, mẹ của người bị bắt giữ, người đỡ đầu, cơ quan địa phương… về lý do bị bắt giữ.

Về quy trình thẩm vấn người chưa thành niên, nếu trong trường hợp cha, mẹ, người đỡ đầu của người chưa thành niên không thể có mặt thì nhân viên cảnh sát tiến hành lập văn bản có chữ ký của người chưa thành niên để chứng minh cuộc thẩm vấn không có người lớn tham dự. Tuy nhiên, việc làm này còn phụ thuộc vào các yếu tố: phải có xác nhận của người đứng đầu về việc khi thẩm vấn không gây tổn hại xấu đến sức khỏe, tinh thần của người chưa thành niên. Nếu thẩm vấn có mặt của người lớn thì họ phải khuyên bảo người chưa thành niên trong quá trình thẩm vấn và giám sát cuộc thẩm vấn diễn ra một cách công bằng và chính xác giúp cuộc điều tra được thuận lợi và tốt đẹp. Thứ tư, công trình nghiên cứu về đối tượng, môi trường thường xảy ra tra tấn “Understading torture”17 (tạm dịch, dưới sự tra tấn), (2011), của tác giả John T.

Tác giả giải thích tra tấn là một bộ phận bình thường của bộ máy cưỡng bức của nhà nước cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm trật tự công cộng; kiểm soát các nhóm thiểu số chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo vì lợi ích của sự thống trị. Tác giả đưa ra trường hợp Abu Ghraib liên tục bị cảnh sát bạo lực ở Hoa Kỳ; đàn áp bạo lực đối với các nhóm sắc tộc thiểu số trong lịch sử Hoa Kỳ; thực hiện quyền lực trong một loạt các liên hệ chính trị, xã hội và liên cá nhân. “Art of torture”, (tạm dịch, nghệ thuật tra tấn) của tác giả Jeanne Sarson, Linda MacDonald. Đây là một bài báo nhấn mạnh sự phổ quát hành vi tra tấn mặc dù đã cam kết của quốc gia, nhân viên nhà nước hoặc tra tấn được gây ra bởi bạo lực gia đình.

Cả hai nhóm này vi phạm quyền con người. Bài viết này tập trung đưa ra các hành vi tra tấn gây ra bởi bạo lực gia đình hoặc nhóm nhân viên nhà nước dưới hình thức đầu tiên là đánh đập, tra tấn tình dục và tinh thần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án tiến sĩ về nội luật hóa quy định của công ước Liên Hợp Quốc về chống tra tấn trong bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam" của tác giả Trịnh Duy Thuyên, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Phương Hoa, trình bày một cách sâu sắc về việc áp dụng các quy định quốc tế vào hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Luận án không chỉ làm rõ những thách thức trong việc nội luật hóa công ước chống tra tấn mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và hoàn thiện bộ luật tố tụng hình sự, từ đó bảo vệ quyền con người và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong bộ luật hình sự năm 2015, nơi phân tích các quy định pháp lý liên quan đến tội phạm trong bộ luật hình sự, và Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học Về Điều Tra Bổ Sung Trong Xét Xử Sơ Thẩm Vụ Án Hình Sự Tại Tỉnh Điện Biên, cung cấp cái nhìn về quy trình điều tra và xét xử trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý hiện hành và sự cần thiết của việc cải cách trong lĩnh vực này.