chương 1. Ngoài ra, toàn văn của bài bình luận về Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn cũng cung cấp bối cảnh lịch sử và phân tích kỹ lưỡng về luật pháp và thực tiễn từ các Tòa án quốc tế và khu vực và các cơ quan giám sát. Các quy định pháp lý liên quan đến các Tòa án trong nước (như của House of Lord trong vụ kiện của Pinochet) cũng như thảo luận về các quy định của các uỷ ban chống tra tấn khi kiểm tra nhà tù. “The Torture Reporting Handbook”10 (tạm dịch, sổ tay báo cáo tra tấn), (2000) của tác giả Camille Giffard.
Đây là tài liệu ghi lại các cáo buộc tra tấn và trả lời các cáo buộc tra tấn trong hệ thống quốc tế bảo vệ quyền con người. Trong tài liệu này đưa ra cách hiểu về tra tấn (What’s Torture) theo quy định tại Điều 1 của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn. Từ quy định của Điều 1 tài liệu đã nêu ra ba vấn đề quan trọng của Tra tấn đó là: Tra tấn phải gây đau đớn về thể chất hoặc tinh thần; được thực hiện bởi người của cơ quan nhà nước hoặc được sự đồng ý của cấp trên; nhằm mục đích lấy thông tin từ người bị tra tấn. Đồng thời cũng đưa ra cách hiểu về đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người sẽ có mức độ đau khổ ít nghiêm trọng (thấp hơn) so với tra tấn.
Các hình thức đối xử được cho là không phải tra tấn khi không được gây ra cho một mục đích cụ thể. Nhưng phải có ý định đưa các cá nhân đến các điều kiện hoặc dẫn đến việc đối xử tệ. Công trình cũng đi đến phân tích nạn nhân của tra tấn có thể là bất kỳ ai: đàn ông, đàn 10 Camille Giffard (2000), The Torture Reporting Handbook, Human Rights Centre, University of Essex. luan an 9 bà, người già, trẻ em, tôn giáo, không có tôn giáo, trí thức hay nông dân đều có thể là nạn nhân của tra tấn và thường tập trung là những người có liên quan đến vấn đề chính trị (bất đồng quan điểm chính trị) phản đối chính quyền, hồi giáo, những người bị buộc tội đang đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự… Đồng thời đưa ra các bằng chứng cho rằng nạn nhân đã bị tra tấn về thể chất (màu sắc da, vết bỏng, bầm tím của bất kỳ thương tích nào….) hoặc tra tấn tinh thần.
Tuy tra tấn tinh thần không để lại bất cứ dấu vết vật lý nào nhưng sẽ để lại những ảnh hưởng tâm lý, tư tưởng sâu sắc cho nạn nhân. Có thể xác định qua tư tưởng, hành vi, nỗi sợ hãi, các cơn ác mộng bị đe dọa giết… Vấn đề này cần phải có một chuyên gia về tâm lý để xác định cụ thể. “A History of Torture,”11 (tạm dịch, lịch sử của tra tấn), (2007), của tác giả Jame Ross cung cấp thông tin về lịch sử về tra tấn và chống tra tấn của nhân loại. Theo tác giả, Tra tấn đã có từ rất xưa, ngay cả trong lý luận và thực tiễn.
Mọi tình huống sử dụng tra tấn để gây đau đớn (cả thể chất và tinh thần) đối với người khác điều bị lên án. Tất cả các ý kiến về chống hành vi tra tấn đều dựa trên cách tiếp cận từ vấn đề từ đạo đức và quyền con người. Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra rằng: mọi ý kiến chống đối tra tấn dường như được tìm thấy trong các nội dung của văn bản pháp lý về quyền con người. Điều này được ông kết luận sau khi nghiên cứu về cách thức sử dụng tra tấn trong lịch sử tư pháp thế giới, bất cứ hình thức tra tấn nào cũng phản ảnh bản chất đi ngược công lý, vô đạo đức và xâm phạm nhân quyền.
“The shape of modern Torture”12 (tạm dịch, hình thức của tra tấn hiện đại), (2005), của tác giả John T. Đây là bình luận của tác giả qua xem xét các cuộc tranh luận quốc tế hiện nay về “tra tấn” trong khuôn khổ quyền lực của Nhà nước hiện đại. Mục tiêu của bình luận này là kết hợp hai cách suy nghĩ về “tra tấn” và các hình thức “cưỡng bách điều tra và thẩm vấn có liên quan”. Phân tích pháp lý về một số vấn đề liên quan đến tra tấn, đặc biệt liên quan đến việc thực hiện diễn ra bất thường (sử dụng vũ lực, chứ không phải là quá trình pháp lý).
“Extraordinary renditions and the protection of human rights”13 (tạm dịch, những đề xuất về bảo vệ quyền con người), (2010), của tác giả Manfred Nowak, Roland Schmidt. Đây là kết quả của cuộc Hội thảo của viện nhân quyền Ludwig Boltsmann tổ chức vào ngày 6,7 tháng 10 năm 2008. Trong đó nêu lên sau hậu quả khủng bố ngày 11/9 tại Mỹ, chính quyền Bush cùng với đồng minh đã bắt cóc các đối tượng bị tình nghi khủng bố mà không theo đúng thủ tục và đưa họ đến những nơi bí mật giam giữ. Tại 11 Kenneth Roth and Minky worden,Amy D.Bernstein ,“A Human Rights Perspective”, (2007), P.
12 Xem https://papers.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=829345. 13 Xem https://bim.at/en/story/volume-20-2010-extraordinary-renditions-and-protection-human-rights. luan an 10 đây, họ đã bị thẩm vấn tăng cường bằng nhiều biện pháp khác nhau. Đây được gọi là những hành vi vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất trong cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố”.
Các nghi phạm đã được vận chuyển trong các máy bay riêng của CIA, không tuân thủ luật hàng không quốc tế và đưa cho các đồng minh sẵn sàng tra tấn. “Does it Make Us Safer? Is it Ever Ok? A Human Right Perspective”14, (tạm dịch, có thật sự làm cho chúng ta an toàn, có bao giờ ổn chưa, quan điểm về nhân quyền), (2007), được biên tập bởi Kenneth Roth và Minky Worden hợp tác xuất bản. Trong cuốn sách này có 12 bài luận của các nhà tư tưởng hàng đầu và các chuyên gia về lịch sử và các lục địa, cung cấp một thăm dò chi tiết của chủ đề tra tấn. Bao gồm Reed Brody trên đường tới Abu Ghraib và “những người bị ma quỷ”; Eitan Felner về kinh nghiệm của Israel; Tom Malinowski về vi phạm “cấm thực hành” của Bộ Ngoại giao tại Abu Ghraib và ở Afghanistan; Kenneth Roth về sự thay đổi của chính phủ Hoa Kỳ từ sự che đậy sang biện minh; Minky Worden về một cuộc khảo sát toàn cầu về các quốc gia đang tra tấn… Tác giả Roth cho rằng các hình thức ngược đãi thường là kênh để dẫn đến tra tấn.
Do đó, tra tấn phải được cấm trong mọi trường hợp, một số câu hỏi chính bao gồm làm thế nào để xác định tra tấn, cho dù tra tấn có hiệu quả hay không và liệu nó có thể chấp nhận được hay không. Thứ ba, các công trình phòng ngừa tra tấn trong lĩnh vực tố tụng hình sự của một số quốc gia Phòng ngừa tra tấn là một trong những yêu cầu đặt ra của Công ước Liên Hợp quốc về chống tra tấn đối với các quốc gia thành viên khi đã phê chuẩn. Hình thức phòng ngừa bao gồm: quy trình cụ thể quá trình thẩm vấn, quy trình bắt người bị nghi thực hiện tội phạm, tuyên truyền cho các nhân viên thực thi pháp luật để phòng ngừa tra tấn… có thể nêu lên một số công trình như: “A handbook for public officials”15, (tạm dịch, sổ tay cảnh sát), (2008), của tác giả Wayne K. Đây là cẩm nang cung cấp thông tin hướng dẫn pháp luật cho nhân viên thực thi pháp luật làm thế nào để chấm dứt hành vi tra tấn trong công việc thường ngày của họ.
Bên cạnh đó còn nêu lên trách nhiệm bảo vệ quyền con người và sự tôn trọng đối với cá nhân và nêu lên một số vụ việc cụ thể sử dụng quá mức, trái pháp luật để tra tấn nhằm có một lời thú tội hoặc thông tin từ một nghi can trong VAHS. “Police and criminal Evidence Act 14 Kenneth Roth, Minky Worden (2007), “Does it make Us Safer? Is it Ever Ok? A Human right Perspective”, New York.Lemieux (2008), “A handbook for public officials”, United States of America. Đây là đạo luật của quốc hội nhằm tạo ra một khuôn khổ pháp lý cho quyền lực của nhân viên Cảnh sát tại Anh chống tội phạm, cũng như cung cấp các quy trình cho việc thực hiện những quyền lực. Khi thực hiện quyền lực đối với trường hợp là người chưa thành niên, đạo luật quy định chi tiết, cụ thể đối với từng hành vi của lực lượng Cảnh sát như: khi bắt giữ người chưa thành niên, việc đầu tiên là nhân viên Cảnh sát phải thông báo với cha, mẹ của người bị bắt giữ, người đỡ đầu, cơ quan địa phương… về lý do bị bắt giữ.
Về quy trình thẩm vấn người chưa thành niên, nếu trong trường hợp cha, mẹ, người đỡ đầu của người chưa thành niên không thể có mặt thì nhân viên cảnh sát tiến hành lập văn bản có chữ ký của người chưa thành niên để chứng minh cuộc thẩm vấn không có người lớn tham dự. Tuy nhiên, việc làm này còn phụ thuộc vào các yếu tố: phải có xác nhận của người đứng đầu về việc khi thẩm vấn không gây tổn hại xấu đến sức khỏe, tinh thần của người chưa thành niên. Nếu thẩm vấn có mặt của người lớn thì họ phải khuyên bảo người chưa thành niên trong quá trình thẩm vấn và giám sát cuộc thẩm vấn diễn ra một cách công bằng và chính xác giúp cuộc điều tra được thuận lợi và tốt đẹp. Thứ tư, công trình nghiên cứu về đối tượng, môi trường thường xảy ra tra tấn “Understading torture”17 (tạm dịch, dưới sự tra tấn), (2011), của tác giả John T.
Tác giả giải thích tra tấn là một bộ phận bình thường của bộ máy cưỡng bức của nhà nước cho nhiều mục đích khác nhau, bao gồm trật tự công cộng; kiểm soát các nhóm thiểu số chủng tộc, sắc tộc và tôn giáo vì lợi ích của sự thống trị. Tác giả đưa ra trường hợp Abu Ghraib liên tục bị cảnh sát bạo lực ở Hoa Kỳ; đàn áp bạo lực đối với các nhóm sắc tộc thiểu số trong lịch sử Hoa Kỳ; thực hiện quyền lực trong một loạt các liên hệ chính trị, xã hội và liên cá nhân. “Art of torture”, (tạm dịch, nghệ thuật tra tấn) của tác giả Jeanne Sarson, Linda MacDonald. Đây là một bài báo nhấn mạnh sự phổ quát hành vi tra tấn mặc dù đã cam kết của quốc gia, nhân viên nhà nước hoặc tra tấn được gây ra bởi bạo lực gia đình.
Cả hai nhóm này vi phạm quyền con người. Bài viết này tập trung đưa ra các hành vi tra tấn gây ra bởi bạo lực gia đình hoặc nhóm nhân viên nhà nước dưới hình thức đầu tiên là đánh đập, tra tấn tình dục và tinh thần.