Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Trong cơ chế quản lý nhà nước, văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) giữ vai trò là công cụ pháp lý quan trọng để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân. Chất lượng của hệ thống VBQPPL phụ thuộc trực tiếp vào quy trình xây dựng và ban hành. Một văn bản quy phạm đạt chuẩn phải đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ và có tính khả thi cao trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội.
Kể từ khi Luật Ban hành VBQPPL năm 1996 ra đời, tiếp nối bằng Luật năm 2004, Luật năm 2008 và hiện nay là Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), công tác xây dựng và ban hành VBQPPL của Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy hoạt động này vẫn bộc lộ không ít hạn chế: tình trạng ban hành văn bản trái thẩm quyền, trùng lặp nội dung văn bản cấp trên, sai sót về thể thức, kỹ thuật lập quy, tính dự báo và khả thi chưa cao, hoặc văn bản hành chính có chứa quy phạm pháp luật. Trước yêu cầu hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước tại địa phương, tác giả Nguyễn Thị Hương Biên đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp".
Mục tiêu nghiên cứu:
Khóa luận hướng tới việc làm rõ những vấn đề lý luận về quy trình ban hành VBQPPL của UBND các cấp; đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành sau khi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đi vào cuộc sống; chỉ ra những tồn tại, bất cập, nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của quy trình này.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận và các khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền liên quan đến quy trình ban hành VBQPPL của UBND các cấp.
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành và thực trạng thực hiện quy trình ban hành VBQPPL của UBND cấp tỉnh, huyện, xã; chỉ ra các sai phạm, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao năng lực chủ thể và đảm bảo các điều kiện thực thi quy trình ban hành VBQPPL tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình ban hành VBQPPL của UBND các cấp dưới góc độ lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng.
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu sâu quy trình ban hành VBQPPL của UBND ở cả 3 cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) theo khung khổ pháp lý từ khi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 có hiệu lực cho đến giai đoạn năm 2023, có đối chiếu với các số liệu thực tế tại Bộ Tư pháp và một số địa phương (Thái Nguyên, Điện Biên, Phú Thọ, Bắc Kạn, Lâm Đồng, Kon Tum, Hà Tĩnh, TP. Hồ Chí Minh...).
Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết:
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu:
- Hiến pháp năm 2013;
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020);
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019);
- Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL;
- Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 107/2020/NĐ-CP về tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện.
Tác giả kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trước đó, tiêu biểu như luận văn, luận án của Đoàn Thị Tố Uyên (2003, 2012), Nguyễn Thị Thùy Kiều (2009), Nguyễn Thùy Linh (2018), Vũ Thị Phương (2018), cùng các bài báo khoa học của Vũ Ngọc Dũng (2019), Nguyễn Thị Ngọc Mai (2014, 2019).
Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống và liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Đánh giá tiến trình phát triển của các quy định pháp luật về thẩm quyền và hình thức VBQPPL của UBND qua các thời kỳ (Luật 1996, 2004, 2008, 2015).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ từng bước trong quy trình lập quy tại từng cấp chính quyền, tổng hợp các quy định pháp lý và số liệu báo cáo thành bức tranh toàn diện.
- Phương pháp thống kê, so sánh: Sử dụng số liệu kiểm tra, thẩm định, rà soát văn bản từ Bộ Tư pháp và các địa phương để so sánh, đối chiếu giữa quy định pháp luật với thực tế thi hành.
- Phương pháp trao đổi, thảo luận chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn từ những người làm công tác xây dựng pháp luật và tư pháp thực tiễn.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được trích xuất từ Báo cáo tổng kết công tác tư pháp các năm 2019, 2020, 2021, 2022 của Bộ Tư pháp (Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2023, Báo cáo số 112/BC-BTP ngày 23/4/2022, Báo cáo số 132/BC-BTP ngày 16/5/2023); báo cáo kết luận kiểm tra văn bản của Cục Kiểm tra văn bản QPPL; số liệu từ báo cáo của UBND, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp các tỉnh Điện Biên, Phú Thọ, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Đắk Lắk (huyện Lắk); báo cáo đánh giá của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) năm 2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp
Chương 1 tập trung xác lập hệ thống khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền và cấu trúc quy trình ban hành VBQPPL của UBND ở cả ba cấp chính quyền địa phương:
-
Khái niệm và đặc điểm:
- Khái niệm: Quy trình ban hành VBQPPL của UBND các cấp là chuỗi các bước, các giai đoạn có mối liên kết chặt chẽ, được sắp xếp theo một trình tự thời gian xác định do luật định nhằm tạo ra các văn bản quy phạm đạt chất lượng. VBQPPL của UBND là văn bản có chứa quy phạm pháp luật do UBND ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định, mang tính bắt buộc chung, áp dụng nhiều lần đối với nhiều đối tượng và có hiệu lực trong phạm vi địa phương.
- Đặc điểm: (1) Do chủ thể có thẩm quyền quy định trong luật; (2) Gồm nhiều bước với sự phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa cơ quan soạn thảo, cơ quan tư pháp và tập thể lãnh đạo UBND; (3) Mang tính quy định bắt buộc, tuân thủ nguyên tắc Đảng lãnh đạo, tập trung dân chủ và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
-
Thẩm quyền ban hành:
- Thẩm quyền về hình thức: Theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), UBND các cấp chỉ được ban hành một hình thức VBQPPL duy nhất là Quyết định. Hình thức "Chỉ thị" của UBND đã bị bãi bỏ tư cách là VBQPPL nhằm giảm bớt tính tầng nấc, cồng kềnh của hệ thống văn bản.
- Thẩm quyền về nội dung: UBND cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định: (1) Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản cấp trên; (2) Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản cấp trên và nghị quyết HĐND cùng cấp; (3) Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương. Đối với UBND cấp huyện và cấp xã, Luật sửa đổi năm 2020 mở rộng thẩm quyền: được ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật, nghị quyết của Quốc hội giao hoặc thực hiện phân cấp quản lý.
-
Trình tự, thủ tục ban hành theo từng cấp:
- Cấp tỉnh (6 bước): (1) Lập đề nghị xây dựng quyết định (gửi VCCI lấy ý kiến nếu liên quan đến doanh nghiệp; Văn phòng UBND phối hợp Sở Tư pháp xem xét, báo cáo Chủ tịch UBND phân công soạn thảo); (2) Soạn thảo; (3) Lấy ý kiến (đăng tải toàn văn trên Cổng thông tin điện tử ít nhất 30 ngày; cơ quan lấy ý kiến trả lời trong 10 ngày); (4) Thẩm định tại Sở Tư pháp (gửi hồ sơ chậm nhất 20 ngày trước phiên họp UBND, thẩm định trong 10 ngày); (5) UBND xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên tán thành; (6) Đăng Công báo cấp tỉnh và đưa tin.
- Cấp huyện (5 bước): (1) Soạn thảo quyết định và tờ trình; (2) Lấy ý kiến các cơ quan liên quan và đối tượng chịu sự tác động (thời hạn tối thiểu 7 ngày); (3) Thẩm định tại Phòng Tư pháp (hoàn thành và gửi báo cáo thẩm định chậm nhất 05 ngày trước ngày họp UBND); (4) UBND xem xét, thông qua theo đa số; (5) Niêm yết công khai và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng.
- Cấp xã (4 bước): (1) Phân công tổ chức, cá nhân soạn thảo quyết định, tờ trình; (2) Lấy ý kiến cơ quan, tổ chức liên quan và nhân dân tại thôn, ấp, khu vực dân cư; (3) UBND xem xét, thảo luận và thông qua tại phiên họp; (4) Niêm yết công khai tại trụ sở theo quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
-
Các yếu tố ảnh hưởng: Khung khổ quy định của pháp luật hiện hành; năng lực, trình độ và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trực tiếp soạn thảo và thẩm định; nguồn kinh phí và điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật hỗ trợ.
Chương 2: Thực trạng thực hiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân các cấp và một số kiến nghị
Chương 2 đi sâu phân tích mặt tích cực, các dạng sai phạm thực tế, nguyên nhân bất cập và đưa ra các đề xuất giải pháp có tính khả thi:
- Những kết quả đạt được:
- Hoạt động lập quy của UBND các cấp từng bước đi vào nền nếp, nhận thức của lãnh đạo và cơ quan chuyên môn được nâng cao. Hệ thống văn bản ban hành đã kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của cấp trên.
- Chỉ số cải thiện chất lượng các quy định của pháp luật Việt Nam năm 2022 do WIPO ghi nhận đã tăng 10 bậc (từ vị trí 93 lên vị trí 83).
- Công tác lập đề nghị xây dựng quyết định cấp tỉnh được thực hiện nghiêm ngặt (tại tỉnh Thái Nguyên đạt tỷ lệ 100% với 89/89 văn bản; tại Bắc Kạn 100% đề nghị và dự thảo được đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử).
- Nhiều chính sách đặc thù được ban hành kịp thời, hiệu quả: Quyết định bố trí, sắp xếp dân cư vùng biên giới tại huyện Ia H'Drai (Kon Tum); đề án phòng, chống ma túy tại Hà Tĩnh; kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng chống tệ nạn xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.
- Công tác thẩm định có chuyển biến rõ nét: Tỉnh Phú Thọ năm 2016 thẩm định 96 văn bản (cấp tỉnh 69, cấp huyện 27); tỉnh Điện Biên thẩm định 37 quyết định (2015), 54 quyết định (2016), 41 quyết định (2017), 22 quyết định (6 tháng đầu năm 2018); tỉnh Bắc Kạn đạt tỷ lệ 100% văn bản được thẩm định trước khi ban hành.
Bảng: Số lượng VBQPPL do cấp tỉnh ban hành hoặc trình ban hành (2019 - 2022)
| Năm thực hiện |
Số lượng VBQPPL cấp tỉnh (Văn bản) |
Nguồn dữ liệu |
| 2019 |
4.092 |
Báo cáo tổng kết công tác Tư pháp năm 2019 |
| 2020 |
3.078 |
Báo cáo tổng kết công tác Tư pháp năm 2020 |
| 2021 |
2.588 |
Báo cáo tổng kết công tác Tư pháp năm 2021 |
| 2022 |
Số liệu cập nhật theo Báo cáo số 01/BC-BTP |
Báo cáo tổng kết công tác Tư pháp năm 2022 |
-
Những hạn chế và sai phạm điển hình:
- Vi phạm quy trình lập quy: Lập đề nghị xây dựng còn mang tính hình thức, hồ sơ sơ sài, thiếu hoạt động điều tra, khảo sát thực tế; thời gian gửi thẩm định quá gấp, sát ngày họp UBND gây quá tải cho cơ quan tư pháp (như trường hợp Sở Nội vụ tỉnh Thái Nguyên gửi hồ sơ thẩm định phân cấp tổ chức bộ máy chỉ kèm công văn và dự thảo, thiếu tài liệu bắt buộc).
- Số lượng văn bản có dấu hiệu trái pháp luật còn lớn: Theo báo cáo của Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp), năm 2021 kiểm tra 4.768 văn bản cấp tỉnh, phát hiện 80 văn bản trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung (trong đó có 71 văn bản của HĐND và UBND, 12 văn bản hành chính chứa quy phạm). Năm 2022 kiểm tra 4.754 văn bản, phát hiện 178 văn bản của HĐND và UBND có nội dung trái pháp luật hoặc văn bản hành chính chứa quy phạm.
- Sao chép nguyên văn văn bản cấp trên: Quyết định số 37/2016/QĐ-UBND ngày 20/12/2016 của UBND tỉnh Thái Nguyên về quản lý điểm Internet công cộng sao chép lại gần như toàn bộ Nghị định số 72/2013/NĐ-CP và các thông tư liên quan, vi phạm Khoản 2 Điều 8 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.
- Ban hành văn bản hành chính chứa quy phạm pháp luật: Quyết định số 05/QĐ-UBND ngày 01/02/2018 của UBND tỉnh Điện Biên ban hành dưới hình thức văn bản hành chính cá biệt nhưng lại đặt ra quy phạm về mức chi hỗ trợ hàng tháng cho Hội đồng thẩm định giá đất.
- Quy định trái nội dung văn bản cấp trên: Khoản 4 Điều 3 ban hành kèm Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 13/7/2021 của UBND tỉnh Lâm Đồng quy định bổ nhiệm Giám đốc, Phó Giám đốc Sở KH&CN theo tiêu chuẩn của Bộ KH&CN, trái với quy định tại Điều 10 và Điều 12 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Nghị định số 107/2020/NĐ-CP) về thẩm quyền của Bộ Nội vụ và UBND cấp tỉnh.
- Sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày (chiếm khoảng 20%): Tình trạng trùng số hiệu văn bản (UBND tỉnh Điện Biên ban hành 2 quyết định cùng mang số 36/2017/QĐ-UBND vào ngày 11/12/2017 và ngày 28/11/2018); sai sót tại phần Nơi nhận (Quyết định số 27/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh Phú Thọ).
- Khâu lấy ý kiến và thẩm định còn hình thức: Lấy ý kiến thiếu tính độc lập, cơ quan soạn thảo còn tư duy áp đặt; việc thẩm định tại Sở Tư pháp chủ yếu giao khoán cho 01 chuyên viên, ít tổ chức hội đồng tư vấn chuyên gia liên ngành.
-
Nguyên nhân chủ yếu:
- Sự thiếu thống nhất, mâu thuẫn giữa một số điều khoản của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; cơ chế xử lý trách nhiệm cán bộ tham mưu văn bản sai còn nhẹ, phổ biến chỉ dừng lại ở mức "kiểm điểm, rút kinh nghiệm".
- Đội ngũ cán bộ pháp chế mỏng, thiếu kinh nghiệm thực tiễn; tình trạng cán bộ có năng lực chuyển công tác do chế độ đãi ngộ thấp; tư tưởng cục bộ ngành khi tham mưu chính sách.
- Nguồn kinh phí hỗ trợ công tác soạn thảo, thẩm định, lấy ý kiến và cơ sở vật chất kỹ thuật còn eo hẹp.
- Nhận thức của lãnh đạo một số địa phương về vai trò của công tác lập quy chưa đúng mức.
-
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện quy định pháp luật: Đổi mới đồng bộ các khâu trong quy trình, đặc biệt là bắt buộc đính kèm hồ sơ đánh giá tác động, tổng kết thực tiễn ngay từ bước lập đề nghị; quy định linh hoạt, cụ thể trách nhiệm lấy ý kiến nhân dân và công khai trên Internet; bổ sung chế tài pháp lý nghiêm khắc (buộc bồi hoàn kinh phí nhà nước, xử lý kỷ luật, trách nhiệm vật chất) đối với cán bộ tham mưu ban hành văn bản trái pháp luật; quy định chặt chẽ về lập dự toán và thống kê ngân sách lập quy.
- Nâng cao năng lực chủ thể: Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng soạn thảo, thẩm định; kiện toàn tổ chức bộ máy pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số: Tích hợp công nghệ số, nâng cấp hạ tầng Cổng thông tin điện tử, Công báo điện tử và cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật nhằm phục vụ tra cứu và tiếp nhận phản hồi của người dân.
- Đầu tư điều kiện bảo đảm: Tăng cường ngân sách, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho hoạt động soạn thảo, thẩm định và kiểm tra văn bản tại địa phương.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và công bố nhiều số liệu thực tế về công tác lập quy tại địa phương:
- Phản ánh xu hướng ban hành VBQPPL cấp tỉnh qua các năm (4.092 văn bản năm 2019; 3.078 văn bản năm 2020; 2.588 văn bản năm 2021) cùng xu hướng giảm dần văn bản cấp xã phù hợp với chủ trương tinh gọn thể chế cơ sở.
- Dẫn chứng số liệu kiểm tra của Bộ Tư pháp: Năm 2021 phát hiện 80 văn bản trái pháp luật (71 văn bản của HĐND/UBND cấp tỉnh); năm 2022 phát hiện 178 văn bản có sai phạm về thẩm quyền, nội dung hoặc chứa quy phạm trái luật.
- Định lượng tỷ lệ sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày tại địa phương chiếm tỷ lệ khoảng 20%.
Đóng góp khoa học và thực tiễn:
- Khóa luận là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về quy trình ban hành VBQPPL của UBND ở cả ba cấp (tỉnh, huyện, xã) sau khi Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2020 đi vào thực tiễn.
- Phân loại rõ ràng các dạng sai phạm thực tế (sai thể thức, sai thẩm quyền hình thức, sai thẩm quyền nội dung, sao chép văn bản cấp trên) thông qua các vụ việc cụ thể tại Điện Biên, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Phú Thọ.
- Đề xuất hệ thống kiến nghị đồng bộ, chú trọng các giải pháp mang tính chế tài pháp lý (buộc bồi hoàn chi phí) và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác lấy ý kiến nhân dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Số liệu thực chứng và ví dụ điển hình tại khóa luận chủ yếu tập trung tại một số địa phương khu vực trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Điện Biên, Phú Thọ, Kon Tum, Lâm Đồng); chưa thể bao quát đầy đủ dữ liệu khảo sát thực tế tại toàn bộ 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá cơ chế kiểm soát quyền lực độc lập đối với hoạt động lập quy của chính quyền địa phương; nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số lượng hóa đánh giá rủi ro pháp lý trong soạn thảo văn bản; khảo sát chuyên sâu về mô hình chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn ảnh hưởng đến thẩm quyền ban hành quyết định quy phạm pháp luật.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, Luật Hành chính - Nhà nước, Quản lý công, Xây dựng văn bản pháp luật. Đồng thời, tài liệu cung cấp nguồn tư liệu hữu ích cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế, tư pháp tại các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp và UBND các cấp.
- Nội dung đáng tham khảo:
- Cấu trúc so sánh chi tiết các bước trong quy trình ban hành quyết định của UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã tại Chương 1.
- Danh mục các phân tích tình huống sai phạm điển hình về thể thức, nội dung và thẩm quyền ban hành văn bản tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), hình thức VBQPPL của UBND các cấp có điểm gì khác biệt so với Luật năm 2004?
Theo Luật năm 2015, UBND các cấp chỉ được ban hành một hình thức VBQPPL duy nhất là Quyết định. Hình thức "Chỉ thị" của UBND không còn được ban hành với tư cách là VBQPPL như quy định tại Luật năm 2004 nhằm tinh gọn và tránh cồng kềnh hệ thống văn bản.
2. Thời hạn lấy ý kiến đối với dự thảo quyết định của UBND cấp tỉnh và cấp huyện được quy định như thế nào?
Đối với cấp tỉnh, dự thảo quyết định phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử ít nhất 30 ngày để lấy ý kiến rộng rãi; cơ quan được lấy ý kiến trả lời trong 10 ngày. Đối với cấp huyện, cơ quan chủ trì soạn thảo khi lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp phải dành thời gian ít nhất 07 ngày; các cơ quan, tổ chức được hỏi ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 07 ngày.
3. Theo kết quả kiểm tra của Bộ Tư pháp được khóa luận dẫn chứng, có bao nhiêu văn bản trái pháp luật được phát hiện trong năm 2021 và 2022?
Năm 2021, Cục Kiểm tra văn bản QPPL kiểm tra 4.768 văn bản cấp tỉnh, phát hiện 80 văn bản có quy định trái pháp luật (gồm 71 văn bản của HĐND và UBND, 12 văn bản hành chính chứa quy phạm). Năm 2022, kiểm tra 4.754 văn bản, phát hiện 178 văn bản của HĐND và UBND có quy định trái pháp luật về thẩm quyền, nội dung hoặc văn bản hành chính chứa quy phạm.
4. Khóa luận nêu ví dụ sai phạm điển hình nào về thẩm quyền nội dung của UBND cấp tỉnh?
Tác giả nêu dẫn chứng Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 13/7/2021 của UBND tỉnh Lâm Đồng quy định bổ nhiệm Giám đốc, Phó Giám đốc Sở KH&CN theo tiêu chuẩn chuyên môn của Bộ KH&CN, trái với quy định tại Điều 10 và Điều 12 Nghị định số 24/2014/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định số 107/2020/NĐ-CP) thuộc thẩm quyền hướng dẫn khung của Bộ Nội vụ và quy định cụ thể của UBND cấp tỉnh.
5. Tác giả đề xuất giải pháp gì nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ trong việc ban hành văn bản trái pháp luật?
Bên cạnh chế độ khen thưởng, tác giả đề xuất cần bổ sung chế tài pháp lý nghiêm khắc tương xứng: ngoài việc xử lý kỷ luật công chức, cần áp dụng chế tài bồi thường, hoàn trả khoản kinh phí mà Nhà nước đã chi trả cho quy trình xây dựng, ban hành văn bản sai phạm đối với cán bộ, công chức tham mưu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hương Biên đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và quy định pháp lý về quy trình ban hành VBQPPL của UBND ba cấp tỉnh, huyện, xã theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Dựa trên các báo cáo thực tế từ Bộ Tư pháp và nhiều địa phương, công trình đã chỉ rõ những sai sót phổ biến về thẩm quyền, nội dung, thể thức cũng như các khâu hình thức trong lấy ý kiến, thẩm định văn bản. Các giải pháp được đề xuất tập trung vào hoàn thiện thể chế, gắn trách nhiệm vật chất đối với cán bộ lập quy, chuẩn hóa bộ máy pháp chế và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại địa phương.