Tổng quan nghiên cứu
Trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển kể từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến giai đoạn tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI năm 2007, hệ thống pháp luật Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng pháp luật vẫn bộc lộ những khoảng trống đáng kể khi nhiều văn bản luật chậm đi vào cuộc sống, tính khả thi chưa cao, hoặc rơi vào tình trạng "luật khung", "luật ống" phải chờ đợi hàng chục nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Nguyên nhân cốt lõi của hạn chế này bắt nguồn từ việc hoạt động lập pháp chưa phản ánh đầy đủ và kịp thời cơ sở xã hội vốn có của nó.
Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là xây dựng hệ thống lý luận khoa học về cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp; phân tích, đánh giá toàn diện cơ chế bảo đảm cơ sở xã hội trong hoạt động của Quốc hội nước ta; đồng thời đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược nhằm gắn kết chặt chẽ quy trình làm luật với thực tiễn đời sống. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian pháp lý tại Việt Nam trong tiến trình Đổi mới từ năm 1986 đến năm 2007, gắn liền với giai đoạn chuẩn bị cho nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007–2011), kết hợp với việc so sánh mở rộng các học thuyết chính trị - pháp lý tiêu biểu trên thế giới. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học để tối ưu hóa 100% các bước trong quy trình lập pháp, giảm thiểu tối đa tình trạng "luật chết", nâng cao hiệu quả điều chỉnh xã hội và bảo đảm quyền làm chủ thực chất của nhân dân trong nhà nước pháp quyền.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng đồng bộ 3 hệ thống lý thuyết nền tảng để kiến tạo khung phân tích học thuật vững chắc:
- Lý thuyết duy vật lịch sử và duy vật biện chứng Mác - Lênin: Khẳng định nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Hoạt động lập pháp là hoạt động thuộc kiến trúc thượng tầng, do đó vừa chịu sự quy định nghiêm ngặt của các điều kiện kinh tế - xã hội khách quan, vừa có tính độc lập tương đối để định hướng và thúc đẩy xã hội phát triển.
- Học thuyết phân chia quyền lực và "Tinh thần pháp luật" của Montesquieu (1689–1775): Kế thừa tư tưởng từ Aristotle và Jean Bodin, lý thuyết này chỉ ra rằng các đạo luật không thể ra đời một cách tùy tiện mà luôn chịu sự chi phối bởi 5 yếu tố ngoại cảnh cơ bản gồm địa lý, khí hậu, phong tục, tập quán và các thiết chế chính trị - xã hội của mỗi quốc gia.
- Lý thuyết kinh tế học hành vi và lý thuyết nhóm lợi ích: Phân tích hoạt động lập pháp dưới lăng kính điều hòa xung đột lợi ích, áp dụng nguyên tắc "có đi có lại" để lý giải thái độ tuân thủ pháp luật của công dân khi các quyền lợi thiết thân được bảo đảm công bằng.
Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm: "Hoạt động lập pháp", "Cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp", "Cơ chế bảo đảm cơ sở xã hội", "Quy trình lập pháp" và "Cân bằng nhóm lợi ích".
Phương pháp nghiên cứu
Công trình thu thập dữ liệu thứ cấp chuẩn xác từ 3 nguồn chính thức: Kỷ yếu tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI (năm 2007 tại kỳ họp thứ 11), Dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007–2011) và Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân đối với các dự án luật trọng điểm.
Cỡ mẫu khảo sát bao quát toàn bộ 11 kỳ họp thường lệ của Quốc hội khóa XI, kết hợp phân tích chuỗi số liệu thống kê kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 15 năm (1990–2005). Phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo tiến trình lịch sử lập hiến từ Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) được áp dụng nhằm đảm bảo dữ liệu mang tính đại diện cao nhất cho thể chế chính trị nước ta.
Luận văn kết hợp chặt chẽ 4 phương pháp phân tích: phân tích quy phạm pháp luật, so sánh lịch sử, thống kê xã hội học và tổng hợp logic biện chứng. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ đòi hỏi phải bóc tách cả phương diện kỹ thuật lập pháp thuần túy lẫn các mối quan hệ xã hội phức tạp đang vận động đằng sau mỗi điều luật. Toàn bộ quá trình nghiên cứu và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong giai đoạn 2006–2007 dưới sự định hướng học thuật nghiêm ngặt.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là động lực trực tiếp định hình nhu cầu lập pháp: Giai đoạn 1990–2005 chứng kiến bước chuyển mình ngoạn mục của nền kinh tế Việt Nam khi tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm mạnh từ 38,7% xuống 20,89%, nhường chỗ cho khu vực công nghiệp và xây dựng bứt phá từ 22,7% lên 41,03%, trong khi khu vực dịch vụ giữ vững ở mức 38,6% (năm 1990) và 38,10% (năm 2005). Nội bộ ngành công nghiệp ghi nhận tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng từ 12,3% lên 20,8% (năm 2003); nông - lâm nghiệp giảm từ 84,4% xuống 77,7% để mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản. Những biến đổi cấu trúc này đã tạo áp lực bắt buộc Quốc hội phải ban hành hàng loạt bộ luật kinh tế mới điều chỉnh kinh tế thị trường nhiều thành phần.
- Quy trình lập pháp còn khép kín và mất cân đối chủ thể: Hơn 90% sáng kiến và dự thảo luật do các cơ quan hành pháp soạn thảo, trong khi quyền trình kiến nghị về luật của đại biểu Quốc hội theo quy định tại Điều 87 Hiến pháp 1992 hầu như chưa được kích hoạt hiệu quả. Thực tế này dẫn đến xu hướng "bảo vệ quyền lực cơ quan quản lý" thay vì tập trung bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
- Sự gia tăng xung đột giữa các nhóm lợi ích xã hội: Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh chóng đã làm bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt, điển hình là hàng nghìn vụ đình công tự phát lan rộng tại các khu chế xuất và hàng trăm nghìn hộ nông dân mất đất canh tác phục vụ các khu công nghiệp. Pháp luật chưa kịp thời thể chế hóa cơ chế hòa giải và đại diện công bằng cho các nhóm yếu thế.
- Khiếm khuyết cấu trúc quy trình lập pháp 4 bước truyền thống: Quy trình chính thức (sáng kiến, soạn thảo - thẩm tra, thảo luận - thông qua, công bố) hoàn toàn vắng bóng 2 giai đoạn sống còn: giai đoạn tiền sáng kiến (dự báo nhu cầu xã hội học) và giai đoạn hậu ban hành (đo lường, đánh giá hiệu quả tác động thực tế của đạo luật).
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân sâu xa của những bất cập nêu trên bắt nguồn từ tàn dư của tư duy bao cấp, duy ý chí trước thời kỳ Đổi mới năm 1986, khi pháp luật bị coi là công cụ mệnh lệnh một chiều của nhà nước hơn là sản phẩm đồng thuận xã hội. So sánh với các nghiên cứu của các học giả xã hội học pháp luật quốc tế và trong nước, luận văn khẳng định Nhà nước cần được nhìn nhận như một "búi quyền lực" đứng trước sự giằng co của vô vàn nhóm lợi ích; nếu nhà làm luật thiếu năng lực phân tích thực chứng, đạo luật ban hành sẽ nhanh chóng trở thành "luật chết" gây lãng phí hàng nghìn tỷ đồng ngân sách và làm suy giảm niềm tin công lý.
Để trực quan hóa các phát hiện này, toàn bộ chuyển dịch cơ cấu GDP 3 khu vực kinh tế (1990–2005) có thể được thể hiện qua biểu đồ miền so sánh biến động %, đồng thời thiết lập bảng ma trận 4 chiều đối chiếu giữa tốc độ phát sinh quan hệ xã hội mới và tiến độ ban hành văn bản luật tương ứng trong 11 kỳ họp Quốc hội khóa XI.
BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU KINH TẾ VIỆT NAM (1990 - 2005) VÀ SỰ PHÁT TRIỂN LẬP PHÁP
+----------------------+------------+------------+----------------------------------------+
| Khu vực kinh tế | Năm 1990 | Năm 2005 | Tác động đến nhu cầu lập pháp |
+----------------------+------------+------------+----------------------------------------+
| Nông nghiệp | 38,70% | 20,89% | Luật Đất đai, Luật Thủy sản |
| Công nghiệp & Xây dựng| 22,70% | 41,03% | Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư |
| Dịch vụ | 38,60% | 38,10% | Luật Thương mại, Luật Các TCTD |
+----------------------+------------+------------+----------------------------------------+
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm bảo đảm cơ sở xã hội vững chắc cho hoạt động lập pháp ở nước ta trong giai đoạn mới, luận văn đề xuất 4 giải pháp đồng bộ:
- Hoàn thiện khung pháp lý về quy trình lập pháp: Sửa đổi toàn diện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bổ sung bắt buộc 2 giai đoạn: đánh giá tác động chính sách (RIA) ở khâu tiền dự thảo và khảo sát xã hội học định kỳ sau 2 năm ban hành luật. Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì hoàn thiện quy chế này trước năm 2009, bảo đảm 100% dự án luật đều có báo cáo phản biện xã hội độc lập.
- Thể chế hóa cơ chế lấy ý kiến và phản biện của nhân dân: Quy định thời gian công khai toàn văn dự thảo luật tối thiểu 60 ngày trên các phương tiện truyền thông để nhân dân đóng góp ý kiến. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò nòng cốt tổ chức các hội nghị phản biện chuyên sâu, nâng tỷ lệ tiếp thu ý kiến nhân dân trong các bản giải trình tiếp thu lên tối thiểu 80%.
- Nâng cao năng lực kỹ thuật và tính chuyên nghiệp của Quốc hội: Tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lên trên 35% trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007–2011). Thành lập Viện Nghiên cứu Xã hội học Lập pháp thuộc Văn phòng Quốc hội trước năm 2008 nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu điều tra xã hội học định lượng phục vụ trực tiếp cho các kỳ họp.
- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong công tác lập pháp: Chuyển đổi phương thức chỉ đạo của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương từ phê duyệt chi tiết từng điều khoản sang định hướng chiến lược vĩ mô. Ban hành các nghị quyết chuyên đề về xây dựng thể chế pháp quyền, bảo đảm sự hài hòa tuyệt đối giữa ý chí của Đảng và nguyện vọng chính đáng của hơn 80 triệu người dân Việt Nam.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Đại biểu Quốc hội và chuyên viên các cơ quan của Quốc hội: Tài liệu cung cấp góc nhìn toàn diện để nâng cao kỹ năng thẩm tra dự án luật, phân tích chính sách và phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng của cử tri tại các kỳ họp Quốc hội.
- Cán bộ pháp chế các Bộ, ban, ngành và Bộ Tư pháp: Cẩm nang phương pháp luận hữu ích giúp các ban soạn thảo triển khai hiệu quả quy trình đánh giá tác động xã hội học (RIA), từ đó xây dựng các nghị định, dự án luật có tính khả thi cao.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Luật học: Nguồn tư liệu học thuật nền tảng phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu các môn Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, và Xã hội học pháp luật tại các trường đại học.
- Luật sư, nhà nghiên cứu chính sách và tổ chức xã hội: Cung cấp cơ sở lý luận vững chắc để các tổ chức xã hội và cộng đồng doanh nghiệp thực hiện quyền phản biện xã hội, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách một cách khoa học, chuyên nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp được hiểu như thế nào?
Cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp là tổng thể các yếu tố khách quan của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức, địa lý) phản ánh nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội phát sinh, bảo đảm cho đạo luật ban hành phản ánh đúng thực tiễn và phục vụ lợi ích nhân dân.
2. Vì sao quy trình lập pháp cần bổ sung giai đoạn "tiền sáng kiến"?
Giai đoạn tiền sáng kiến đóng vai trò điều tra xã hội học và dự báo nhu cầu điều chỉnh pháp luật từ sớm. Nếu thiếu bước này, nhà làm luật dễ rơi vào chủ quan, ban hành các văn bản không sát với thực tiễn đời sống, dẫn đến tình trạng đạo luật vừa ra đời đã phải sửa đổi sau 1–2 năm áp dụng.
3. Yếu tố kinh tế chi phối hoạt động lập pháp ở Việt Nam như thế nào?
Yếu tố kinh tế đóng vai trò quyết định cấu trúc pháp luật. Điển hình trong giai đoạn 1990–2005, khi khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng mạnh chiếm 41,03% GDP, Quốc hội đã bắt buộc phải ban hành hàng loạt đạo luật mới như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nhằm điều chỉnh các quan hệ sản xuất mới.
4. Hiện tượng "luật chết" gây ra những hệ lụy gì cho xã hội?
"Luật chết" là các đạo luật ban hành nhưng không thể đi vào cuộc sống do thiếu tính khả thi. Hệ lụy nguy hiểm nhất là làm phát sinh chi phí khắc phục vô cùng tốn kém, gây ách tắc các nguồn lực sản xuất, làm méo mó các quan hệ dân sự và làm suy giảm nghiêm trọng uy tín quản lý của Nhà nước.
5. Làm thế nào để giải quyết xung đột nhóm lợi ích trong xây dựng luật?
Nhà nước cần thừa nhận sự tồn tại khách quan của các nhóm lợi ích đa dạng trong nền kinh tế thị trường, công khai minh bạch quy trình tiếp nhận ý kiến đóng góp, thiết lập cơ chế đối thoại trực tiếp giữa giới chủ và người lao động, đồng thời lấy lợi ích công cộng và công bằng xã hội làm thước đo tối cao.
Kết luận
- Luận văn khẳng định hoạt động lập pháp là quá trình nhận thức khoa học để thể chế hóa các quy luật kinh tế - xã hội khách quan thành các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung.
- Hệ thống hóa toàn diện 5 nhóm yếu tố cấu thành cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp tại Việt Nam gồm: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và các điều kiện tự nhiên - kỹ thuật.
- Phân tích sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 1990–2005 (công nghiệp chiếm 41,03% GDP) với yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy lập pháp.
- Đề xuất mô hình quy trình lập pháp toàn diện tích hợp 2 giai đoạn đột phá: dự báo nhu cầu xã hội học ở khâu tiền sáng kiến và đánh giá tác động sau ban hành văn bản.
- Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn định hình chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khóa XII (2007–2011) hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Để tiếp tục hoàn thiện thể chế lập pháp, các cơ quan hữu quan cần khẩn trương luật hóa quy chuẩn điều tra xã hội học pháp luật ngay trong năm 2008. Độc giả quan tâm và các nhà hoạch định chính sách hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phan Thanh Hà tại Thư viện Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội để nghiên cứu sâu hơn các giải pháp chuyên ngành.