đặt vấn đề và lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và số liệu, những điểm khác biệt căn bản so với các nghiên cứu trước và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước Chương này trình bày tóm lược các khái niệm về chi tiêu công, việc làm, khu vực kinh tế tư nhân. Đồng thời, giới thiệu tổng quan sơ sở lý thuyết và sơ lược một số nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài và đặt giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đề xuất mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu nghiên cứu, mô tả và đo lường các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Phân tích kết quả Chương này nêu thực trạng của chi tiêu công và việc làm khu vực kinh tế tư nhân tại các địa phương giai đoạn 2010-2015. Đồng thời, dựa vào số liệu thu thập của Tông cục Thống kê, ý kiến của các chuyên gia, qua phương pháp phân tích định tính nhằm phân tích đánh giá thực trạng của chi tiêu công và việc làm khu vực kinh tế tư nhân. Đặc biệt, đi sâu phân tích và làm rõ ý nghĩa của kết quả thu được qua phương pháp nghiên cứu định lượng. Lê Việt Hoàng – ME07B Trang 4 Đề tài: Tác động của chi tiêu công đến việc làm khu vực kinh tế tư nhân tại các địa phương ở Việt Nam Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trong chương này tóm lược kết quả nghiên cứu chính và đề xuất một số kiến nghị chính sách.
Cuối cùng đưa ra những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Lê Việt Hoàng – ME07B Trang 5 Đề tài: Tác động của chi tiêu công đến việc làm khu vực kinh tế tư nhân tại các địa phương ở Việt Nam CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2. Các khái niệm của đề tài: 2.1 Khái niệm ngân sách Nhà nước: Theo Owen E.Hughes (2012), Ngân sách Nhà nước là một tài liệu phản ánh số thuế thu được và các khoản chi tiêu công của Chính phủ trong một năm. NSNN có nhiều chức năng, xét về góc độ tài chính NSNN đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định sự lành mạnh của toàn bộ nền kinh tế.
Theo Luật NSNN (2002), “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Samuelson & Nordhaus (1997), ngân sách của chính phủ có ba chức năng chính: i) ngân sách là một công cụ mà theo đó sản lượng quốc gia được phân chia giữa tiêu dùng và đầu tư tư nhân và công cộng; ii) thông qua chi tiêu trực tiếp và các khuyến khích gián tiếp về thuế, ngân sách của chính phủ tác động đến cung các đầu vào như lao động, vốn và tác động đến đầu ra của các khu vực; iii) chính sách tài khóa của chính phủ hay ngân sách có vai trò trong việc tác động đến những mục tiêu kinh tế vĩ mô then chốt như hạn chế những dao động của chu kỳ kinh doanh và góp phần duy trì một nền kinh tế tăng trưởng, có mức hữu nghiệp cao, tránh được lạm phát lớn hay lạm phát không ổn định (Kiều Ngọc Tài trích dẫn, 2015) - Chi tiêu công (chi ngân sách Nhà nước): “Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ.Chi tiêu công phản ánh giá trị của các loại hàng hóa mà chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước”, Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2009, trang 82).Perkins và ctg (2010, p. 532-533), tất cả mọi xã hội đều cần có một khu vực công, bởi vì ngay cả trong điều kiện tốt nhất thì cơ chế thị trường cũng không thể thực hiện mọi chức năng kinh tế mà hộ gia đình cần, thị trường không thể tự mình đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng. Để khắc phục những khuyết tật của thị trường cần có một khu vực công nhằm thực hiện chức năng cung cấp hàng hóa công cho xã hội.
Lê Việt Hoàng – ME07B Trang 6 Đề tài: Tác động của chi tiêu công đến việc làm khu vực kinh tế tư nhân tại các địa phương ở Việt Nam 2.2 Chi ngân sách địa phương: Tại Việt Nam, Ngân sách Nhà nước gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm 3 cấp ngân sách là ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã, Điều 5, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP (2003). Theo Nghị định 60/2003/NĐ- CP (2003), chi ngân sách địa phương gồm các khoản chi sau: Chi đầu tƣ phát triển: Chi đầu tư phát triển là những khoản chi: a) Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; b) Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; c) Chi bổ sung dự trữ Nhà nước; d) Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước; đ) Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật. Chi thƣờng xuyên: Chi thường xuyên là những khoản chi: a) Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; b) Các hoạt động sự nghiệp kinh tế; c) Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; d) Hoạt động của các cơ quan Nhà nước; đ) Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam; e) Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam; g) Trợ giá theo chính sách của Nhà nước; h) Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước; i) Hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội; k) Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; l) Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; m) Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
Chi ngân sách khác: Chi ngân sách khác là những khoản chi: a) Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay; b) Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước; c) Chi cho vay của ngân sách trung ương; d) Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; đ) Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính; e) Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách Lê Việt Hoàng – ME07B Trang 7 Đề tài: Tác động của chi tiêu công đến việc làm khu vực kinh tế tư nhân tại các địa phương ở Việt Nam cấp dưới; g) Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau. Chính sách tài khóa Trần Vũ Hải (2009), Chính sách tài khóa là hệ thống các chính sách của chính phủ về tài chính, thường được hoạch định và thực hiện trọn vẹn trong một niên khóa tài chính, nhằm tác động đến các định hướng phát triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong kế hoạch chi tiêu chính phủ và chính sách thu ngân sách (chủ yếu là các khoản thu về thuế). Chính sách tài khoá có thể tạm chia thành chính sách tài khoá cân bằng, chính sách tài khoá mở rộng và chính sách tài khoá thắt chặt. Chính sách tài khoá cân bằng là chính sách tài khoá mà theo đó, tổng chi tiêu của Chính phủ cân bằng với các nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác mà không phải vay nợ.
Chính sách tài khoá mở rộng (hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt) là chính sách nhằm tăng cường chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách: (i) gia tăng mức độ chi tiêu chính phủ mà không tăng nguồn thu; hoặc (ii) giảm nguồn thu từ thuế mà không giảm chi tiêu; hoặc (iii) vừa gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ đồng thời giảm nguồn thu từ thuế. Chính sách tài khoá mở rộng có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo thêm nhiều việc làm. Tuy nhiên, chính sách tài khoá mở rộng thường dẫn đến việc Chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt ngân sách. Chính sách tài khoá thắt chặt (hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư) là chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ so với nguồn thu bằng cách: (i) chi tiêu của chính phủ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc (ii) không giảm chi tiêu nhưng tăng thu từ thuế; hoặc (iii) vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế.
Chính sách tài khoá thắt chặt được áp dụng khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nhanh và thiếu bền vững hoặc khi nền kinh tế gặp tình trạng lạm phát cao. Việc này có thể làm thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó. Lê Việt Hoàng – ME07B Trang 8 Đề tài: Tác động của chi tiêu công đến việc làm khu vực kinh tế tư nhân tại các địa phương ở Việt Nam 2.4 Khái niệm về việc làm: Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quan niệm việc làm là một phạm trù kinh tế, nó xác định hệ thống quan hệ giữa con người về việc đảm bảo cho họ một chỗ làm việc và tham gia vào hoạt động sản xuất. Vì vậy, việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do đó có sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất.
Khái niệm này đã được chính thức thông qua tại Hội nghị quốc tế của ILO lần thứ 13 (1993) và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng (Nguyễn Thị Huệ trích dẫn, 2014).