Đặt vấn đề: Trong thời gian qua, lạm phát cao luôn là mối đe dọa tiềm ẩn đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế dài hạn ở Việt Nam. Quá trình hội nhập quốc tế và tự do hóa tài chính mạnh mẽ trong khi những nền tảng kinh tế vĩ mô còn lỏng lẻo khiến nhiều người hoài nghi về khả năng ổn định và kiểm soát lạm phát trong những năm tới, dẫn tới tâm lý của người dân kỳ vọng lạm phát trong tương lai sẽ tăng. Kỳ vọng lạm phát tăng sẽ kéo theo lạm phát tăng và chính sách kiểm soát lạm phát của chính phủ có thể gặp nhiều khó khăn. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận lại cơ chế điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta hiện nay.
Một câu hỏi đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm là phải chăng cơ chế điều hành chính sách tiền tệ hiện nay không thực sự mang lại hiệu quả trong bối cảnh kinh tế trong nước diễn biến phức tạp và ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới đầy biến động. Việc nghiên cứu: “Kỳ vọng lạm phát và chính sách tiền tệ tại Việt Nam” góp phần vào việc dự báo về mức lạm phát kỳ vọng trong tương lai của người dân và xem xét những nhân tố tác động đến việc hình thành kỳ vọng lạm phát. Mục tiêu nghiên cứu: Tác giả tiến hành dự báo về mức lạm phát kỳ vọng trong tương lai tại Việt Nam. Bên cạnh đó, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới kỳ vọng lạm phát, từ đó có những đóng góp trong việc đề ra một chính sách tiền tệ hợp lý để vận hành nền kinh tế tốt hơn.
Câu hỏi nghiên cứu: Việc dự báo lạm phát kỳ vọng trong tương lai ở Việt Nam được thực hiện như thế nào? Xem xét các nhân tố nào tác động đến việc hình thành kỳ vọng lạm phát, từ đó có những đóng góp gì cho chính sách tiền tệ tại Việt Nam hiện nay? 2 Phạm vi nghiên cứu: Dựa vào chuỗi dữ liệu lạm phát quá khứ, xây dựng mô hình dự báo lạm phát ngắn hạn trong tương lai. Xem xét các yếu tố tác động đến kỳ vọng lạm phát: lạm phát trong quá khứ, ch nh lệch sản lượng output gap , lãi suất thực, tăng trưởng chi ti u chính phủ, t giá hối đoái thực, giá nhi n liệu tại Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2005 – 2012. Phƣơng pháp nghiên cứu: S d ng mô hình tự h i qu trung ình trượt RIM AutoRegressive Integrated Moving Average được áp d ng cho dữ liệu chuỗi thời gian để dự báo lạm phát trong tương lai từ các giá trị lạm phát trong quá khứ. RIM được chứng minh là một mô hình mạnh mẽ để dự đoán lạm phát trong ngắn hạn.
S d ng mô hình h i qu đa nhân tố để xem xét các yếu tố tác động đến kỳ vọng lạm phát tại Việt Nam. Các biến đưa vào mô hình: Lạm phát quá khứ, chi tiêu chính phủ, t giá hối đoái thực, lãi suất thực, chên lệch sản lượng, nhiên liệu xăng dầu. Ý nghĩa của đề tài Dự báo lạm phát trong ngắn hạn và việc tìm ra các yếu tố tác động đến kỳ vọng lạm phát giúp chính phủ đưa ra chính sách tiền tệ hiệu quả hơn cho nền kinh tế. Bố cục của đề tài: 1.
Tổng quan về các nghi n cứu trước đâ 3. Dữ liệu và phương pháp nghi n cứu 4. Kết quả nghi n cứu 5. Kết luận và kiến nghị 3 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐƢỜNG CONG PHILLIPS VÀ KỲ VỌNG LẠM PHÁT Phillips Alban W.
(1958), "The relationship between unemployment and the rate of change of money wages in the UK 1861-1957," Economica. Nhiều năm sau khi hình thành các đặc điểm kỹ thuật an đầu của đường cong Phillips, mô hình chi phối là kỳ vọng thích nghi. Đường cong Phillips biểu thị quan hệ giữa t lệ thất nghiệp và t lệ lạm phát đường cong Phillips phiên bản lạm phát) hoặc giữa t lệ thất nghiệp và tốc độ tăng trưởng GDP đường cong Phillips phiên bản GDP. Đường nà được đặt theo tên Alban William Phillips, người mà vào năm 1958 đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu của nước Anh từ năm 1861 đến năm 1957 và phát hiện ra tương quan âm giữa t lệ thất nghiệp và tốc độ tăng tiền lương danh nghĩa.1 Mô hình đƣờng cong Phillip của trƣờng phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp (Ngu n: Kinh tế học vĩ mô) 4 Đường cong Phillips dốc xuống phía phải trên một đ thị hai chiều với tr c hoành là các mức t lệ thất nghiệp và tr c tung là các mức t lệ lạm phát.
Tr n đường này là các kết hợp giữa t lệ lạm phát và t lệ thất nghiệp. Dọc theo đường cong Phillips, hễ t lệ thất nghiệp giảm xuống thì t lệ lạm phát sẽ tăng l n; và ngược lại. Độ dốc của đường cong Phillips càng nhiều thì chi phí của sự hy sinh về mặt sản lượng và việc làm để đạt m c tiêu ổn định về lạm phát lại càng cao. Độ dốc của đường cong Phillips ph thuộc phần lớn vào độ cứng nhắc của lương và giá cả - hai yếu tố này càng cứng nhắc thì đường cong càng phẳng và t lệ hy sinh càng cao.
Trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp lý luận rằng để giảm t lệ thất nghiệp chính phủ đã s d ng chính sách quản lý tổng cầu, song do t lệ thất nghiệp có quan hệ ngược chiều bền vững với t lệ lạm phát, n n tăng trưởng kinh tế cao đương nhi n gâ ra lạm phát. Lạm phát là cái giá phải trả để giảm t lệ thất nghiệp. Lúc nà vấn đề kỳ vọng lạm phát được đặt ra : Có hai lý thu ết về kỳ vọng lạm phát: Kỳ vọng thích nghi adaptive expectation và kỳ vọng hợp lý Rational expectation). Kỳ vọng thích nghi: kỳ vọng được hình thành dựa vào lạm phát quá khứ lý thu ết quán tính Kỳ vọng hợp lý lúc đầu được đưa ra ởi John Muth, sau đó được phổ biến bởi Robert Emerson Lucas.
Kỳ vọng hợp lý (Rational expectation): các kỳ vọng được dự báo một cách tốt nhất căn cứ vào tất cả các thông tin sẵn có bao g m các thông tin về chính sách. Nếu chính sách cắt giảm lạm phát được tin cậy, các kỳ vọng lạm phát có thể điều chỉnh nhanh. Phelps (1967 – 1970): Ba bài nghiên cứu viết từ 1967 đến 1970 của Phelps gây chấn động trong giới kinh tế với những nghi vấn căn ản về sự đánh đổi giữa thất nghiệp và lạm phát qua đường cong Phillips. C thể, đường cong Phillips 5 (lúc ấy) thiếu một căn ản lý thuyết về hành vi của cá nhân hoặc doanh nghiệp, và cũng không nói gì đến tính ổn định của thị trường lao động.
Theo Phelps, lạm phát không chỉ tuỳ thuộc vào mức thất nghiệp, mà còn vào kỳ vọng lạm phát của lao động lẫn doanh nghiệp. Nghĩa là, lạm phát sẽ gây kỳ vọng là lạm phát sẽ tiếp t c, thậm chí sẽ cao hơn, và chính kỳ vọng ấ thúc đẩ lao động đòi tăng lương, doanh nghiệp tăng giá, làm lạm phát trầm trọng hơn. Lương đuổi giá, giá đuổi lương, vòng trôn ốc ngày càng gia tốc. Rất may, vòng trôn ốc lạm phát đó sẽ không tiến đến vô cực bởi vì, như Phelps phân tích trong mô hình của ông, có một suất thất nghiệp mà lạm phát sẽ ngừng gia tốc.
Ban đầu, ông gọi suất ấ là “suất thất nghiệp tự nhi n”, nhưng sau khi có người chỉ ra là chữ “tự nhi n” có thể gây ngộ nhận là suất ấ do thượng đế quyết định, con người không làm gì được, thì ông đổi tên nó lại là “suất thất nghiệp mà lạm phát không gia tốc”. Đó là suất thất nghiệp khi kỳ vọng lạm phát trùng với lạm phát thực tế, và không ai cần tha đổi gì nữa. Kinh tế trở lại trạng thái cân bằng, dù có thất nghiệp. Mô hình này của Phelps cũng iểu hiện bằng một đường Phillips, song đâ là “đường Phillips có bổ sung kỳ vọng” Hình 1.2 Đƣờng Phillips có bổ sung kỳ vọng (Edmund S.
Phelps, 1967 - 1970) 6 Một sự tăng giảm) trong t lệ lạm phát kỳ vọng sẽ gắn liền với sự dịch chuyển lên (xuống) của đường cong Phillips. Vì vậy, một sự tăng giảm) trong t lệ lạm phát kỳ vọng sẽ dẫn tới sự tăng giảm) của t lệ lạm phát thực tế mà không ph thuộc vào khoảng cách sản lượng. Từ mô hình của ông, Phelps kết luận: vì mỗi nền kinh tế có một suất thất nghiệp “tự nhi n”, nhà nước chỉ có thể giảm thất nghiệp dưới mức ấy một cách tạm thời, bởi lẽ sớm muộn gì nền kinh tế cũng trở về mức thất nghiệp đó và gia tăng lạm phát). Nói cách khác, theo Phelps (và nhiều kinh tế gia khác, như Friedman , đ đệ của Keynes là sai lầm khi dựa vào đường Phillips nguyên thu , cho rằng có thể dùng công c tiền tệ và thuế khóa (lẫn chi ti u để hạ suất thất nghiệp đến bất kì con số nào, và giữ mãi ở mức đó, miễn là chấp nhận tốc độ lạm phát tương ứng.
Phelps khẳng định, thất nghiệp mà dưới mức “tự nhi n” thì lạm phát sẽ gia tốc, và tiếp t c gia tốc. Do đó, Phelps khuyến nghị các nhà làm chính sách không n n nhìn vào các đánh đổi ngắn hạn giữa thất nghiệp và lạm phát, song nên lèo lái nền kinh tế đến mức thu d ng lao động tối hảo và bền vững dài lâu. Friedman (1968): đã áp d ng ý tưởng về hành vi hợp lý. Ông lập luận rằng, sau một thời kỳ lạm phát kéo dài, người ta sẽ đưa kỳ vọng về lạm phát trong tương lai vào qu ết định của họ, làm vô hiệu hóa ất kỳ hiệu quả tích cực nào của lạm phát đối với việc làm.
Chẳng hạn, một lý do lạm phát có thể dẫn đến việc làm cao hơn là do thu nhiều công nhân sẽ trở n n có lợi hơn khi giá tăng nhanh hơn lương lao động. Nhưng một khi người lao động hiểu rằng sức mua của lương họ sẽ ị giảm vì lạm phát, họ sẽ đòi trước những thỏa thuận lương cao hơn, để cho lương tăng kịp với giá. Kết quả là, sau khi tình trạng lạm phát diễn ra một thời gian, nó sẽ không còn đem lại sức tăng việc làm như an đầu nữa. Thực tế, tỉ lệ thất nghiệp sẽ tăng l n nếu tình trạng lạm phát diễn ra không như mong đợi.