Chương 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ SỰ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ 1. Những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa sự truyền dẫn tỷ giá và lạm phát Sự truyền dẫn tỷ giá (Exchange Rate Pass-Through, ERPT) được định nghĩa là phần trăm thay đổi giá nhập khẩu khi tỷ giá giữa quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu thay đổi một phần trăm. ERPT được gọi là toàn phần khi những thay đổi của tỉ giá được trung chuyển toàn bộ sang giá nhập khẩu; trong khi đó, ERPT được gọi là không toàn phần khi toàn bộ những thay đổi của tỉ giá không được trung chuyển sang giá nhập khẩu. Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế.
Nguyên nhân dẫn đến lạm phát có thể bắt nguồn từ chi phí gia tăng (chi phí đẩy), hoặc do tổng cầu tăng cao (cầu kéo), hoặc cũng có thể xuất phát từ cung tiền vượt mức (yếu tố tiền tệ). Trên cơ sở hệ thống hóa các lý thuyết kinh tế học từ truyền thống đến hiện đại, kết hợp kinh tế học vi mô và vĩ mô, luận văn mô tả và giải thích mối quan hệ hai chiều giữa sự truyền dẫn tỷ giá và lạm phát. Các kênh truyền dẫn tác động của tỷ giá đến giá cả và lạm phát Có ba kênh tác động chính của tỷ giá đến lạm phát: (i) Tác động trực tiếp của sự thay đổi tỷ giá đến lạm phát thông qua kênh giá nhập khẩu. Cách tiếp cận này được giải thích bởi luật một giá (lý thuyết ngang giá sức mua) và lựa chọn của nhà xuất khẩu về loại tiền tệ niêm yết trên hóa đơn.
(ii) Tác động gián tiếp lên tổng cầu, và truyền đến các loại giá trong nước thông qua “hiệu ứng dịch chuyển chi tiêu”. 123doc 6 (iii) Tác động của tỷ giá đến cán cân thanh toán (bao gồm cán cân thương mại và cán cân tài khoản vốn), ảnh hưởng đến cung tiền trong nền kinh tế và dẫn đến lạm phát.1 mô tả cơ chế truyền dẫn tác động của chính sách tỷ giá đến lạm phát trong nền kinh tế mở. Tỷ giá thay đổi Tác động trực tiếp Tác động gián tiếp Giá nhập khẩu Giá nhập khẩu Hiệu ứng Xuất khẩu ròng Hàng hóa thành phẩm Hàng hóa trung gian dịch chuyển chi tiêu Tài khoản vốn Giá sản xuất Tổng Cầu Cán cân thanh toán Giá tiêu dùng / Giá Cung tiền sản xuất Lạm phát Hình 1. Các kênh truyền dẫn tỷ giá 1.
Kênh tác động trực tiếp qua giá nhập khẩu Lý thuyết ngang giá sức mua – một trong những cơ sở luận quan trọng của ERPT, cho rằng sự trung chuyển tác động của tỉ giá sang giá trong nước phải là toàn phần (độ co giãn bằng 100%) và hoàn toàn không có một cơ hội nào cho kinh doanh chênh lệch giá trong dài hạn. Quy luật một giá giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới là một cấu phần của lý thuyết ngang giá sức mua. 123doc 7 Theo luật một giá (law of one price), các hàng hóa đồng nhất phải bán với cùng mức giá tại quốc gia xuất khẩu và quốc gia nhập khẩu, khi được chuyển đổi sang tỷ giá thị trường: 𝑃𝑡𝑖 = 𝑆𝑡 𝑃𝑡𝑖∗ Trong đó 𝑃𝑖 là giá hàng hóa đồng nhất thứ 𝑖 tại quốc gia nhập khẩu, 𝑆 là tỷ giá danh nghĩa (số lượng đồng nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ), 𝑃∗ là giá hàng hóa tại quốc gia xuất khẩu. Khi tỉ giá tăng làm cho giá nhập khẩu hàng thành phẩm tăng, từ đó dẫn đến mặt bằng giá hàng hóa trong nước tăng lên.
Ngoài ra, một số hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu đầu vào của các mặt hàng trong nước, làm giá sản xuất của các loại hàng hóa này tăng lên, đẩy giá hàng hóa trong nước tăng lên, gây ra lạm phát. Kênh này có tác dụng mạnh đối với những quốc gia có tỉ trọng nhập khẩu/GDP lớn. Khi nghiên cứu mức độ truyền dẫn của tỷ giá đến giá nhập khẩu, một vấn đề quan trọng cần xem xét là loại tiền tệ được nhà xuất khẩu sử dụng để niêm yết trên hóa đơn. Có ba lựa chọn: nhà xuất khẩu có thể niêm yết hóa đơn theo loại tiền của quốc gia mình – trường hợp này được biết đến như là phương thức định giá theo loại tiền của nhà sản xuất (producer currency pricing, PCP), hoặc theo loại tiền của quốc gia nhập khẩu và được gọi là định giá theo loại tiền địa phương của nhà nhập khẩu (local currency pricing, LCP), hoặc cũng có thể theo loại tiền tệ thứ ba và được gọi là định giá theo loại tiền trung gian (vehicle currency pricing, VCP).
Việc lựa chọn PCP, LCP hay VCP phụ thuộc vào các nhân tố sau đây: - Chi phí giao dịch hay tính thanh khoản: Một loại tiền tệ sẽ được sử dụng làm phương tiện thanh toán quốc tế khi có chi phí giao dịch thấp, hay tính thanh khoản cao. - Thị phần trên thị trường thương mại quốc tế: Thị phần thấp của quốc gia xuất khẩu trên thị trường quốc tế có thể dẫn đến việc lựa chọn LCP hay VCP. - Độ biến động của tiền tệ: Sự ổn định hơn về chính sách tiền tệ của quốc gia nhập khẩu so với quốc gia xuất khẩu sẽ dẫn đến việc lựa chọn LCP. 123doc 8 Nếu loại tiền của quốc gia nhập khẩu được dùng cho việc định giá (LCP), thì sự thay đổi tỷ giá sẽ không tác động đến giá trong nước của quốc gia đó; theo đó sẽ không có sự truyền dẫn từ tỷ giá đến các mức giá trong nước.
Còn nếu nhà xuất khẩu niêm yết hóa đơn theo loại tiền của quốc gia mình (PCP) thì sự truyền dẫn từ tỷ giá đến các mức giá trong nước của quốc gia nhập khẩu sẽ là toàn phần. Tuy nhiên, đối với các quốc gia có loại tiền tệ không được sử dụng rộng rãi trong việc niêm yết hóa đơn (không LCP) thì vẫn có khả năng xảy ra trường hợp mức độ truyền dẫn tỷ giá bằng không và giá trong nước trở nên ổn định nếu tồn tại cơ chế định giá theo thị trường (pricing to market, PTM) do các sản phẩm khác biệt và sự hiện diện của các công ty cạnh tranh không hoàn hảo. Kênh tác động gián tiếp lên tổng cầu Kênh tác động này có thể được giải thích thông qua “hiệu ứng dịch chuyển chi tiêu” (expenditure switching effect). Một cuộc khủng hoảng tiền tệ có thể dẫn đến sự thay thế bên trong do làm giảm tiêu thụ các hàng hóa nhập khẩu chất lượng cao đắt tiền và làm tăng việc tiêu thụ hàng hóa sản xuất trong nước chất lượng thấp và rẻ hơn; kết quả là giá cả hàng hóa nội địa tăng lên.
Các nhà sản xuất trong nước cũng có thể thay thế hàng hóa nhập khẩu trung gian bằng hàng hóa sản xuất trong nước, thúc đẩy tổng cầu nội địa, làm tăng mức giá chung trong nền kinh tế. Hiệu ứng thay thế bên ngoài cũng xảy ra do hàng hóa sản xuất trong nước trở nên rẻ hơn đối với người nước ngoài và cầu của họ đối với hàng hóa sản xuất trong nước tăng lên. Bởi vì tiền lương danh nghĩa là cố định trong ngắn hạn, điều này làm giảm tiền lương thực tế, theo đó kích thích tăng sản lượng và khuyến khích xuất khẩu của quốc gia. Tuy nhiên, khi tiền lương thực tế tăng lại về mức ban đầu, chi phí sản xuất tăng lên đẩy mức giá lên, hình thành nên lạm phát.
Kênh tác động gián tiếp lên cán cân thanh toán, cung tiền Tỷ giá được xác định bởi cung cầu tiền tệ phát sinh từ các giao dịch được ghi nhận trên cán cân thanh toán. Một nhà nhập khẩu trong nước khi nhập tivi màu Nhật 123doc 9 Bản sẽ cần một lượng yên Nhật để thanh toán cho nhà xuất khẩu Nhật, tương tự, một nhà xuất khẩu trong nước bằng việc xuất khẩu hàng hóa sẽ nhận được một lượng cung ngoại tệ. Do đó, cung cầu hàng hóa, dịch vụ trong/ngoài nước sẽ dẫn đến cung cầu tương ứng về tiền tệ. Xem xét phương trình lượng tiền mạnh (high powered money): 𝑀 =𝑅+𝐷 Trong đó 𝑀 là lượng tiền mạnh hoặc tiền cơ sở, 𝑅 là lượng dự trữ ngoại hối, 𝐷 là giá trị tín dụng nội địa được.
Lấy sai phân bậc nhất phương trình trên, ta có: ∆𝑀 = ∆𝑅 + ∆𝐷 Hay: ∆𝑅 = ∆𝑀 − ∆𝐷 Trong đó ∆𝑅 là thay đổi trong lượng dự trữ ngoại hối, ∆𝑀 là thay đổi trong lượng tiền cơ sở, ∆𝐷 là thay đổi trong giá trị tín dụng nội địa. Dưới chế độ tỷ giá cố định, sự thay đổi trong lượng dự trữ ngoại hối được xác định bằng tổng giá trị tài khoản vãng lai và tài khoản vốn. ∆𝑅 = 𝐶𝐴 + 𝐶𝐴𝑃 Với: 𝐶𝐴 = 𝑁𝑋 + 𝑖 ′ 𝑁𝐹𝐴 𝐶𝐴𝑃 = 𝑆𝐶𝐴𝑃 + 𝐿𝐶𝐴𝑃 Trong đó 𝐶𝐴 là tài khoản vãng lai, 𝐶𝐴𝑃 là tài khoản vốn của cán cân thanh toán, 𝑁𝑋 là xuất khẩu ròng hoặc cán cân thương mại, 𝑖 ′ là lãi suất ròng nước ngoài (bằng la trong nước trừ lãi suất nước ngoài, với lãi suất nước ngoài bằng trung bình lãi suất của các quốc gia có giao thương quốc tế), 𝑁𝐹𝐴 là tài sản ròng nước ngoài, 𝑖 ′ 𝑁𝐹𝐴 là thanh toán lãi ròng đối với các tài sản nước ngoài ròng. 𝑆𝐶𝐴𝑃 biểu thị cho tổng dòng vốn ngắn hạn (bao gồm các khoản đầu tư vào tín phiếu kho bạc và tín dụng thương mại), 𝐿𝐶𝐴𝑃 là các dòng vốn dài hạn, bao gồm đầu tư trực tiếp và gián tiếp.
123doc 10 Các quan hệ cân bằng trên cùng với mô hình Mundell-Fleming truyền thống tạo cơ sở cho việc giải thích cơ chế truyền dẫn sự thay đổi của tỷ giá đến cán cân thanh toán, cung tiền và lạm phát. Khi nội tệ giảm, xuất nhập khẩu ròng sẽ tăng lên, góp phần cải thiện tình trạng cán cân thương mại. Mặt khác khi xuất nhập khẩu ròng tăng, đường IS dịch chuyển sang phải (mô hình IS-LM), lãi suất trong nước tăng lên, trong ngắn hạn luồng vốn đổ vào trong nước tăng (nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp) làm cán cân vốn tăng lên, từ đó cán cân thanh toán tổng thể được cải thiện. Có 2 trường hợp: - Dưới chế độ tỷ giá cố định: Ngân hàng trung ương sẽ phải cung ứng thêm tiền để mua ngoại tệ nhằm giữ tỷ giá cố định để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, mặt khác để tăng cường dự trữ ngoại hối quốc gia.
Như vậy, tác động không mong muốn là cung tiền tăng lên, đường LM dịch chuyển sang phải (mô hình IS- LM) làm cân bằng tiền hàng trong nền kinh tế thay đổi, lạm phát sẽ tăng lên.