Đặt vấn đề nghiên cứu Luận án tìm thấy bằng chứng các công cụ CSTT có ảnh hưởng mạnh hơn so với các công cụ ATVM trong việc duy trì sự OĐTC tại Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu khẳng định lại một lần nữa tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng tín dụng. Do đó tính hiệu quả của CSTT được thể hiện thông qua việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng vẫn là chủ yếu. Qua đó cho thấy vai trò quan trọng của NHTW trong việc góp phần ổn định vĩ mô tại Việt Nam.
Đây là cơ sơ quan trọng để lý thuyết Keynes (Keynes, 1936) được vận dụng và phát triển trong nghiên cứu. Cách tiếp cận Keynes mới nhận được nhiều sự quan tâm bởi mô hình này nhấn mạnh hành vi tối ưu hóa liên thời kỳ của các chủ thể kinh tế hay xây dựng nền tảng vi mô cho các giả thuyết của trường phái này để giải quyết vấn đề cứng nhắc của giá cả và tiền lương danh nghĩa (nominal rigidity). Kể từ nghiên cứu của Sims (1980), mô hình vec tơ tự hồi quy cấu trúc (Structural Vector Autoregression - SVAR) nhận được nhiều sự quan tâm bởi khả năng mô phỏng các phản ứng động của các biến số vĩ mô đối với các cú sốc cấu trúc (structural shocks). Một cách tổng quát, mô hình SVAR được xác định dựa vào việc thiết lập các điều kiện ràng buộc (restrictions) trong các phương trình phù hợp với lý thuyết kinh tế.
Những giả định xác định sau đó được kiểm tra dựa trên các phản ứng động (Hall, 1995). Mối quan hệ cấu trúc đồng thời giữa các biến số vĩ mô được đề xuất bởi Kim và Roubini (2000). Huh (1999) dựa trên các giả định xác định trên mô hình Mundell - Fleming4 tĩnh với việc áp đặt các điều kiện ràng buộc ngắn và dài hạn. Dungey và Pagan (2000, 2009) phát triển mô hình cấu trúc cấu trúc khối đệ quy (a block – recursive structural model) với 11 biến số.
Trong chính sách lạm phát mục tiêu, NHTW thiết lập mục tiêu lạm phát cho chính sách tiền tệ và sau đó thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu đó. 4 Xem chi tiết tại mục phụ lục 2, phụ lục 7. 4 behaviour) của các chủ thể kinh tế (economic agents). Ngoài ra, mối quan hệ tổng hợp sử dụng khuôn khổ SVAR dẫn xuất từ mô hình cân bằng tổng thể động (Dynamic General Equilibrium Model).
Trong đó NHTW và các chủ thể tư nhân trong nền kinh tế giả định kỳ vọng hợp lý và hướng về tương lai (Hodge & ctg, 2008; Nguyễn Đức Trung, Nguyễn Hoàng Chung, 2017). Thứ nhất, cấu trúc mô hình Keynes mới SVAR bao gồm phương trình tổng cầu động (IS) dựa trên đại diện tối ưu hóa hữu dụng biên của các chủ thể trong nền kinh tế mở và nhỏ, phương trình tổng cung (aggregate supply - AS) hay đường cong Keynesian mới Phillips (New Keynesian Phillips curve - NKPC) dựa trên nền tảng nghiên cứu của Calvo’s (1983) về mô hình biến động giá cả (a staggered price model), một phương trình ngang giá lãi suất không bảo hiểm rủi ro tỷ giá (UIP) và một quy tắc chính sách tiền tệ hướng về tương lai. Thông qua đó, nghiên cứu mô phỏng lại phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm: độ lệch sản lượng (output gap), lạm phát (inflation), tỷ giá hối đoái (exchange rate) và LSCS (a policy interest rate) đối với bốn cú sốc cấu trúc - cú sốc tổng cầu, cú sốc tổng cung, cú sốc tỷ giá và cú sốc CSTT. Thứ hai, nghiên cứu mô hình Keynes mới với phương pháp tiếp cận DSGE (Mô hình Keynes mới DSGE) ước lượng dự báo cho nền kinh tế nhỏ và mở cửa như Việt Nam.
Mô hình được xây dựng và hiệu chỉnh sao cho phù hợp với mục tiêu dự báo đối với các biến số vĩ mô của nền kinh tế như: Độ lệch sản lượng, lạm phát, LSCS, biến động trong tỉ giá hối đoái và điều khoản thương mại. Ngược lại với các nền tảng thống kê thuần túy, nghiên cứu sử dụng mô hình DSGE cho nền kinh tế mở và nhỏ như Việt Nam để cung cấp các thông tin tiền nghiệm cho mô hình ước lượng Bayesian5 VAR (BVAR). Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phù hợp tương đối về phương pháp tiếp cận và tính tương thích giữa mô hình lí thuyết và dữ liệu thực tế nhằm xây dựng một mô hình dự báo có ý nghĩa cho Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mục tiêu chung Thực hiện kiểm định sự phù hợp của mô hình Keynes mới nhằm khẳng định vai trò của CSTT trong việc ổn định vĩ mô tại Việt Nam. 5 Xem chi tiết về nội suy Bayes tại phụ lục 19. Mục tiêu cụ thể Thứ nhất, nghiên cứu đánh giá vai trò của CSTT trong việc ổn định vĩ mô tại Việt Nam thông qua việc kiểm soát TTTD; Thứ hai, nghiên cứu đánh giá sự phù hợp của mô hình Keynes mới trong việc giải thích các biến động kinh tế vĩ mô; Thứ ba, nghiên cứu sử dụng mô hình Keynes mới SVAR để đánh giá phản ứng của các biến số vĩ mô trước các cú sốc của chính các biến số này; Thứ tư, nghiên cứu đề xuất mô hình Keynes mới DSGE phục vụ phân tích, dự báo và truyền thông chính sách về kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Thứ nhất, vai trò của CSTT tại Việt Nam được biểu hiện thông qua việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng như thế nào? Thứ hai, tại sao mô hình Keynes mới được xem là phù hợp để giải thích cho các biến động kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn? Thứ ba, cú sốc của các biến số vĩ mô tác động đến các biến số này thông qua mô hình Keynes mới như thế nào? Thứ tư, mô hình mô phỏng dự báo bằng mô hình Keynes mới DSGE cho các biến số vĩ mô của Việt Nam như thế nào? 1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu 1. Các nhân tố CSTT và ATVM tác động đến tăng trưởng tín dụng Các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng (TTTD) của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2017. Biến phụ thuộc Nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu TTTD (credit growth - CRD) như là chỉ số đại điện cho sự ổn định tài chính (OĐTC).
Điều này phù hợp với nghiên cứu của Kim & ctg (2018), theo đó tăng trưởng kinh tế là thước đo phản ánh sự ổn định của hệ thống tài 6 chính. Thật vậy, việc TTTD quá mức làm cho khủng hoảng ngân hàng dễ dàng xảy ra và dẫn đến sự bất OĐTC (Borio & ctg, 2009; Schularick & ctg, 2012). Biến độc lập Theo Tressel & Zhang (2016), những thay đổi bất thường của TTTD và giá tài sản là hai tín hiệu quan trọng của rủi ro hệ thống, được sử dụng để làm chỉ số cảnh báo sớm sự bất ổn tài chính. Thực tế tại Việt Nam, giai đoạn tín dụng tăng trưởng quá nóng 2007 - 2010 (tỷ lệ tăng trưởng dư nợ luôn duy trì ở mức trên 25%) dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao, nhất là trong giai đoạn 2011 - 2013.
Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn đối với các ngân hàng yếu kém mất khả năng thanh khoản và làm cho hoạt động toàn hệ thống kém ổn định. Như vậy, chỉ số TTTD (crd) có thể phản ánh mức độ rủi ro mà các ngân hàng và là chỉ số phản ánh khả năng phát triển bền vững và lành mạnh của hệ thống tài chính trong tương lai (Imran & Nishat, 2013). Ngoài ra, các biến độc lập đại diện cho CSTT là tỷ lệ dự trữ bắt buộc (rrr) và lãi suất tái chiết khấu (dr); đại diện cho chính sách ATVM là hệ số an toàn vốn (car), tỷ lệ dự trữ thanh khoản (liq), tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (ldr) và các biến kiểm soát để giảm tác động gây nhiễu của các biến bị bỏ sót và hiện tượng hệ số ước lượng không đáng tin cậy (mô hình không vững, hệ số ước lượng không có ý nghĩa thống kê,…) tăng trưởng kinh tế (gdp) và tốc độ lạm phát (cpi). Các biến số kinh tế vĩ mô trong mô hình Keynes mới Khuôn khổ mô hình Keynes mới SVAR Các biến số vĩ mô tác động đến cơ chế truyền dẫn CSTT trong mô hình Keynes mới SVAR theo phương pháp tiếp cận kỳ vọng hợp lý.
Nghiên cứu thực nghiệm cho nền kinh tế nhỏ, mở của Việt Nam sử dụng dữ liệu theo quý và bắt đầu từ quý II/2000 đến quý III/2017. Các chuỗi số liệu được sử dụng cho nghiên cứu bao gồm: Lãi suất chính sách (r): Trước năm 2010, dữ liệu theo IMF - IFS là lãi suất tín phiếu kho bạc Nhà nước (treasury bill rate); từ sau năm 2010, số liệu này được IMF - IFS chuẩn hóa là LSCS (policy rate). Theo Nguyễn Thế Khải (2017), lãi suất trên thị trường tiền tệ được chia thành hai nhóm: lãi suất chịu tác động của quan 7 hệ cung – cầu vốn6 và lãi suất do NHTW công bố được sử dụng để điều hành CSTT7. Biến độ lệch sản lượng (dy_hp): Độ lệch sản lượng được tính bằng chênh lệch giữa logarit sản lượng thực và sản lượng tiềm năng (HP filter)8 (IMF–IFS).
Tỷ giá hối đoái (lne): Tỷ giá dẫn xuất từ cặp tỷ giá USD/VNĐ của IMF - IFS; được lấy logarit nepe (ln) nhằm làm co dữ liệu, để ước lượng được chính xác hơn. Lạm phát (pi): Chỉ số này được đại diện bởi chỉ số giá tiêu dùng trong nước theo quý, lấy dữ liệu của IMF - IFS. Đối với nhóm biến nước ngoài bao gồm lạm phát (cpi_us) và lãi suất Quỹ liên bang của Mỹ (int_us); lấy dữ liệu theo IMF - IFS và Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Khuôn khổ mô hình Keynes mới DSGE Các biến số kinh tế vĩ mô trong mô hình Keynes mới theo cách tiếp cận DSGE.
Dữ liệu nghiên cứu gồm 5 biến quan sát bao gồm: Độ lệch sản lượng (dy_obs), lãi suất (R_obs), lạm phát (infl_obs), biến động trong tỉ giá hối đoái (de_obs), sự thay đổi của điều khoản thương mại (dq_obs) và lấy theo quý từ quý I/2000 - quý IV/2016, dựa trên các nguồn: IMF - IFS, WB, SBV, GSO… Dữ liệu thu được gồm 63 - 65 nhóm biến quan sát, tất cả dữ liệu được lấy trung bình về độ lệch logarit từ trạng thái cân bằng (steady state). Cơ sở dữ liệu phù hợp với nghiên cứu của Lubik và Schorheide (2007); Zheng và Guo (2013), Hodge và cộng sự (2008).