CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ 1. Khái niệm trái phiếu Chính phủ 1. Định nghĩa Theo Jeff Madura (2013), trái phiếu là chứng khoán nợ dài hạn được phát hành bởi các cơ quan Chính phủ hoặc tập đoàn. Người phát hành trái phiếu có nghĩa vụ trả lãi theo định kỳ (hàng năm hoặc nửa năm) và mệnh giá (tiền gốc) khi đáo hạn.
Người phát hành phải có khả năng chứng minh rằng dòng tiền trong tương lai đủ để thanh toán cho trái chủ. Các nhà đầu tư sẽ cân nhắc mua trái phiếu nếu lợi tức thu được đủ để bù đắp rủi ro. Tại Hoa Kỳ, trái phiếu thường được phân loại theo tổ chức phát hành bao gồm: trái phiếu Kho bạc Hoa Kỳ, trái phiếu cơ quan liên bang được phát hành bởi các cơ quan liên bang, trái phiếu thành phố được phát hành bởi các địa phương và trái phiếu công ty được thành lập bởi các tập đoàn. Trong đó, trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu được Chính phủ của một quốc gia phát hành bằng đồng nội tệ của nước đó.
Những trái phiếu được Chính phủ quốc gia phát hành bằng đồng ngoại tệ thường được gọi là “sovereign bond”. Trái phiếu Chính phủ đầu tiên được phát hành bởi Chính phủ Vương quốc Anh năm 1963 để gây quỹ trong cuộc chiến tranh chống Pháp. Thời gian đáo hạn Giống như hầu hết các chứng khoán nợ, nhà đầu tư khi mua trái phiếu cũng rất quan tâm thời gian đáo hạn. Đây là khoảng thời gian còn lại từ hiện tại tới khi khoản nợ chấm dứt và người phát hành sẽ hoàn thành nghĩa vụ nợ với người nắm giữ trái phiếu.
Thời gian còn lại của trái phiếu hay còn được sử dụng với tên gọi khác như kỳ hạn trái phiếu, thời gian đáo hạn,. Nhà đầu tư rất quan tâm tới yếu tố này bởi nó cho biết số kỳ trả lãi mà người nắm giữ trái phiếu có thể mong đợi nhận được và thời gian khoản nợ gốc được hoàn trả. Hơn nữa, lợi suất trái phiếu phụ thuộc đáng kể vào thời hạn còn lại của trái phiếu. Cụ thể, thông thường nhà đầu tư sẽ đòi hỏi lợi suất cao hơn đối với trái phiếu có kỳ hạn dài hơn bởi những rủi ro trong khoảng thời gian nắm giữ trái phiếu dài hơn.
Cuối cùng, sự biến động của giá trái phiếu có liên hệ chặt chẽ với 11 thời gian đáo hạn. Một sự thay đổi nhỏ trong lợi suất trái phiếu sẽ khiến giá của trái phiếu kỳ hạn dài biến động mạnh hơn giá trái phiếu kỳ hạn ngắn. Dựa vào kỳ hạn trái phiếu và đặc điểm tại các nước mà có thể phân loại trái phiếu thành ba loại: Tại Mỹ, tín phiếu (T-bills) là các TPCP có thời gian đáo hạn ngắn nhất 4 tuần, 8 tuần, 13 tuần, 26 tuần và 52 tuần; T-Notes có thời gian đáo hạn từ 2 – 10 năm và trái phiếu có thời gian đáo hạn từ 10 – 30 năm. Trong khi đó, tại Việt Nam các trái phiếu được chia thành trái phiếu ngắn hạn (thời gian đáo hạn từ 1 đến 5 năm), trái phiếu trung hạn (thời gian đáo hạn từ 5 đến 10 năm) và trái phiếu dài hạn (thời gian đáo hạn lớn hơn 10 năm).
Thời gian đáo hạn trung bình Khác với thời gian đáo hạn vừa trình bày (để phân biệt ta gọi là thời gian đáo hạn danh nghĩa), thời gian đáo hạn trung bình (Duration) xét đến thời gian trung bình thực tế người nắm giữ trái phiếu được nhận toàn bộ dòng tiền. Duration là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi khi đo lường độ rủi ro của trái phiếu, khi thời gian đáo hạn trung bình cao hơn thì rủi ro sẽ cao hơn. Thời hạn danh nghĩa của trái phiếu không thay đổi bất kể sự thay đổi nào của lãi suất trong khi thời hạn đáo hạn trung bình sẽ tăng khi lợi suất giảm và ngược lại. Việc sử dụng tính toán thời gian đáo hạn trung bình sẽ có tác dụng tốt trong các chiến lược phòng ngừa rủi ro lãi suất của các nhà đầu tư, nó được xem là thước đo độ nhạy cảm về giá của danh mục đầu tư trái phiếu khi có sự thay đổi của lãi suất.
Thời gian đáo hạn trung bình càng cao, rủi ro lãi suất càng lớn. Cụ thể, 1% thay đổi lãi suất (tăng hoặc giảm), giá trái phiếu sẽ thay đổi 1% theo hướng ngược lại. Công thức Duration được diễn giải như sau: Trong đó: CFi: Dòng tiền tại thời điểm i ti: Thời điểm nhận được dòng tiền i 12 Tuy nhiên, khi tính đến thời gian đáo hạn trung bình, nhà đầu tư thường sử dụng công thức Modified Duration để đo lường phần trăm thay đổi của giá trái phiếu khi lợi suất trái phiếu thay đổi: 1. Coupon Là khoản thanh toán lãi định kỳ được trả cho chủ sở hữu trong suốt vòng đời của trái phiếu.
Khoản thanh toán được xác định bằng lãi suất coupon nhân với mệnh giá. Thông thường trái phiếu được trả lãi coupon bán niên (theo thông lệ Mỹ) hoặc thường niên (theo thông lệ Châu Âu). Đối với nhiều nhà đầu tư, khoản coupon chỉ đơn giản là số tiền lãi họ nhận được hàng năm, tuy nhiên, lãi coupon có mối liên hệ lớn đến giá trái phiếu. Khi có biến động lãi suất thị trường, với các điều kiện khác giống nhau, một trái phiếu có lãi coupon lớn hơn thì giá trái phiếu đó sẽ chịu sự thay đổi ít hơn so với trái phiếu có lãi coupon thấp.
Mệnh giá Mệnh giá rất quan trọng đối với một công cụ có thu nhập cố định hoặc trái phiếu vì nó quyết định giá trị đáo hạn của công cụ nợ đó cũng như giá trị của các khoản thanh toán coupon. Giá thị trường của trái phiếu có thể cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá, tùy thuộc vào mức lãi suất. Mệnh giá cho một trái phiếu thường là $1,000 hoặc $100 tại Mỹ và 100,000 đồng tại Việt Nam. Giá trị mệnh giá là số tiền mà các tổ chức phát hành trái phiếu hứa sẽ trả nợ cho các trái chủ tại ngày đáo hạn của trái phiếu.
Trái phiếu không nhất thiết phải được phát hành theo mệnh giá của chúng. Chúng có thể được phát hành với giá phụ trội hoặc chiết khấu tùy thuộc vào mức lãi suất. Một trái phiếu đang giao dịch trên mệnh giá được cho là giao dịch phụ trội, trong khi giao dịch trái phiếu dưới mệnh giá được coi là chiết khấu. Trong thời gian khi lãi suất thấp hoặc đang có xu hướng thấp hơn, tỷ lệ trái phiếu sẽ giao dịch trên mệnh giá sẽ lớn hơn.
Khi lãi suất cao, tỷ lệ trái phiếu sẽ giao dịch với mức chiết khấu sẽ lớn hơn. Ví dụ: một trái phiếu có mệnh giá 1,000 đô la hiện đang giao dịch ở mức 1,050 đô la sẽ được cho là giao dịch ở mức phụ trội, trong khi một giao dịch trái phiếu khác ở mức 970 đô la được coi là chiết khấu. Lợi suất trái phiếu Lợi tức của trái phiếu phụ thuộc vào việc trái phiếu được nhìn nhận từ quan điểm của người phát hành, người có nghĩa vụ thanh toán trái phiếu cho đến khi đáo hạn, hoặc từ quan điểm của các nhà đầu tư mua trái phiếu (Jeff Madura, 2013). Từ phía người phát hành, chi phí tài trợ phát hành trái phiếu thường được đo bằng lợi suất đến ngày đáo hạn, phản ánh lợi suất hàng năm được người phát hành thanh toán trong suốt thời hạn của trái phiếu.
Trong khi nhà đầu tư giao dịch trái phiếu, cái mà họ quan tâm hơn cả là lợi suất đáo hạn của trái phiếu (yield to maturity - YTM). YTM là lãi suất làm cho giá trị hiện tại của tất cả các dòng tiền trong tương lai của trái phiếu bằng với giá trị hiện tại của nó. Các dòng tiền này bao gồm các khoản thanh toán coupon và giá trị đáo hạn của trái phiếu. YTM được xác định như sau: 1.
Lợi suất trái phiếu Chính phủ Lợi suất trái phiếu là tổng lợi nhuận nhà đầu tư nhận được khi đầu tư vào trái phiếu được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm. Lợi suất trái phiếu có tác động ngược chiều với giá của trái phiếu. Thông thường, nhu cầu TPCP sẽ tăng lên khi các nhà đầu tư chứng khoán lo ngại về sự an toàn của các khoản đầu tư chứng khoán của họ và quyết định tìm kiếm các kênh an toàn hơn, điều đó đồng nghĩa với việc giá trái phiếu tăng lên. Ngược lại, nhu cầu đầu tư trái phiếu giảm khi các nhà đầu tư trái phiếu cảm thấy tiền của họ sẽ được sử dụng hiệu quả hơn nếu được đầu tư vào thị trường chứng khoán vì thị trường chứng khoán đang hoặc sắp tăng, khi ấy, giá trái phiếu giảm xuống.
Lợi suất trái phiếu càng cao thì nhà đầu tư càng sớm thu hồi vốn và giảm thiếu rủi ro. Việc theo dõi lợi suất TPCP là rất quan trọng bởi đây là chỉ số tốt về sức khỏe của nền kinh tế, sức mạnh của đồng nội tệ và mức độ tín nhiệm của Chính phủ (người phát hành). Để biểu thị lợi suất trái phiếu các kỳ hạn, ta sử dụng khái niệm đường cong lợi suất. Đường cong lợi suất là đồ thị mô tả mối quan hệ giữa lãi suất và kỳ hạn của một công cụ nợ.
Đồ thị này bắt đầu với mức lãi suất ở kỳ hạn thấp nhất và mở rộng ra theo thời gian, thường là đến kỳ hạn 30 năm đối với trái phiếu. Đây là một cách để cho thấy sự khác biệt trong lợi suất mà nhà đầu tư nhận được khi lựa chọn 14 mua trái phiếu ngắn hạn hay dài hạn. Thông thường, đường cong lãi suất chuẩn được xây dựng cho các trái phiếu Chính phủ. Do đó các mức lãi suất của các trái phiếu này được sử dụng làm lãi suất chuẩn (bench mark) cho các trái phiếu khác.
Nói cách khác, đường cong lãi suất chuẩn là đường biểu diễn lãi suất hoàn vốn của những chứng khoán nợ không có rủi ro vỡ nợ và rủi ro thanh khoản, có thời hạn thanh toán khác nhau, tại một thời điểm xác định nào đó. Và do đó, đường cong lãi suất chuẩn là đường cong lãi suất hoàn vốn nằm ở vị trí thấp nhất trên đồ thị biểu diễn các đường cong lãi suất khác nhau. Mức lãi suất chuẩn phải phản ánh được ba yếu tố: chi phí vốn, phần bù rủi ro lạm phát và phần bù rủi ro kỳ hạn trong điều kiện rủi ro vỡ nợ thấp nhất. Có 3 dạng đường cong lợi suất chính: - Dạng thông thường: nhà đầu tư yêu cầu lợi suất cao hơn khi mua trái phiếu có kỳ hạn dài hơn vì mức độ bất ổn cao hơn, do đó, đường cong lợi suất có xu hướng dốc lên.