Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỶ GIÁ VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm Trong điều kiện hiện nay, các nước ngày càng có nhiều mối quan hệ với nhau trên các mặt kinh tế, chính trị, du lịch… Vì vậy những quan hệ thanh toán quốc tế nảy sinh. Mặt khác đồng tiền của một nước có giá trị lưu thông trên nước đó. Do vậy để thực hiện các thanh toán trên thì cần đổi tiền nước này ra tiền nước khác.
Từ đó tỷ giá hối đoái là cần thiết và quan trọng. Có rất nhiều nhà kinh tế đưa ra những khái niệm khác nhau về tỷ giá hối đoái. Các khái niệm phản ánh một số khía cạnh khác nhau của tỷ giá: Samuelson: Nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi tiền của một nước này lấy tiền của một nước khác. Stayer: Nhà kinh tế học người Australia cho rằng một đồng tiền của một nước nào đó thì bằng giá trị của một số lượng đồng tiền khác.
Chistopher Pass và Bryan Lowes: Người Anh cho rằng tỷ giá hối đoái là giá của một loại tiền được biểu hiện bằng giá của một loại tiền khác. Tuy nhiên, ta có khái niệm tổng quát như sau: Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa các đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Phân loại tỷ giá 1. Tỉ giá hối đoái danh nghĩa Tỷ giá hối đoái là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua 13 đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng.
Trên bảng điện tử tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đưa ra tỷ giá niêm yết ngày 07/08/2017: 1 USD = 22.765 VND/USD) 1 JPY = 206,25 VND (206,25 VND/JPY) Đó chính là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, nó thể hiện tỷ lệ trao đổi giữa các đồng tiền của các quốc gia. Có nghĩa là nếu khách hàng giao dịch 1 đô la Mỹ sẽ nhận được 22.765 USD hoặc đổi 1 yên Nhật, khách hàng sẽ nhận được 206,45 JPY. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là giá tương đối giữa đồng tiền của hai nước. Ví dụ nếu tỷ giá hối đoái giữa đồng đô la Mỹ và đồng Việt Nam là 22.765 VNĐ đổi 1 USD, thì bạn có thể đổi 1 USD lấy 22.675 VNĐ trên thị trường tiền tệ thế giới.
Người Việt Nam muốn có USD có thể đổi 22.675 VNĐ để đổi lấy 1 USD. Người Mỹ muốn có đồng Việt Nam có thể nhận 22.765 VNĐ cho 1 USD mà anh ta có. Khi nói đến tỷ giá hối đoái giữa 2 nước, người ta thường ám chỉ tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Tỷ giá hối đoái ngày hôm sau 1 USD đổi 22.770 VNĐ, tăng so với mức 1 USD đổi 22.765 VND trong ngày hôm trước.
Người ta gọi là sự giảm giá của đồng Việt Nam, là sự tăng giá tỷ giá và ngược lại. Tỉ giá hối đoái thực Tỷ giá hối đoái thực chiếm vị trí quan trọng trong các nghiên cứu kinh tế về tỷ giá hối đoái. Xuất phát từ sự tin tưởng tỷ giá hối đoái thực là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là trong xu thế hoàn cầu hiện nay, vai trò của nó được thể hiện như sau: Sự tăng giảm, thay đổi kim ngạch xuất khẩu có thể phản ảnh thông qua sự tăng giảm của tỷ giá hối đoái thực, nó là chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh nền kinh tế nói chung và nền ngoại thương nói riêng của một quốc gia. 14 Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong dài hạn giúp cho Nhà nước có thể dự toán được xu hướng tỷ giá hối đoái trong nhiều năm vì tỷ giá hối đoái thực nó là chỉ tiêu dài hạn.
Thông qua tỷ giá hối đoái thực, Nhà nước có thể điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác để đưa nền kính tế đi đúng hướng nhằm đạt mức tăng trưởng bền vững, bởi lẽ tỷ giá hối đoái thực được xem là chỉ tiêu phản ánh thực chất của nội tệ so với ngoại tệ chủ yếu. Tỷ giá hối đoái thực có ảnh hưởng trực tiếp đến thực thi chính sách tiền tệ quốc gia. Sự thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng bằng vốn ngắn hạn, từ đó làm thay đổi tài sản có bên bảng tổng kết tài sản của ngân hàng trung ương. Tỷ giá hối đoái thực là chỉ tiêu phân tích điều kiện kinh tế vĩ mô, từ đó có những phương hướng điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa đúng hướng vì nó phản ánh được sức mua của tiền tệ đồng thời là thước đo chủ yếu để đánh giá thực chất của nội tệ so với các ngoại tệ.
Với mức độ quan trọng như vậy nên người ta đang tìm cách xác định tỷ giá thực và dự đoán dịch chuyển của nó. Tỷ giá thực thường được định nghĩa trong các lý thuyết kinh tế như sau: Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và ngoài nước. Tỷ giá hối đoái thực tế là giá tương đối của hàng hóa ở hai nước. Tức là, tỷ giá hối đoái thực tế cho chúng ta biết tỷ lệ mà dựa vào đó hàng hóa của một nước được trao đổi với hàng hóa nước khác.
Tỉ giá hối đoái bình quân Chúng ta thấy rằng bất cứ một nước nào cũng có nhiều tỷ giá hối đoái, bằng đúng số lượng những đồng tiền nước ngoài có thể được đổi thành đồng nội tệ. Đồng Việt Nam (VND) có thể được dùng để mua đô la Mỹ, yên Nhật (JPY), bảng Anh (GBP)… Khi nghiên cứu những thay đổi trong tỷ giá, các nhà kinh tế thường sử dụng các chỉ số mang thông tin trung bình về các tỷ giá này. Cũng giống như chỉ số giá tiêu dùng chuyển nhiều loại giá trong nền kinh tế về một loại giá, một chỉ số tỷ giá hối đoái chuyển các tỷ giá hối đoái khác nhau thành 15 một thước đo duy nhất về giá trị quốc tế của đồng nội tệ. Trong hầu hết các trường hợp, tỷ giá hối đoái bình quân được hiểu là số bình quân gia quyền của hầu hết các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi tỷ trọng của mỗi loại ngoại tệ trong kim ngạch ngoại thương của nước đó.
Công thức tính tỷ giá hối đoái thực tế bình quân là: REER = RERi x Wi Trong đó: REER : tỷ giá hối đoái thực tế bình quân RERi : tỷ giá hối đoái thực tế song phương với nước i Wi : tỷ trọng thương mại của nước I trong tổng giá trị thương mại của nước đang xét 1. Các nhân tố tác động lên tỷ giá Dưới tác động của xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng ngắn hạn cũng như dài hạn đến tỷ giá, bao gồm các yếu tố sau đây: 1. Cán cân thanh toán quốc tế (Balance of payment) Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh tình hình thu – chi thực tế bằng ngoại tệ của một nước so với các nước khác trong quan hệ giao dịch quốc tế lẫn nhau, cán cân thanh toán quốc tế thể hiện vị thế tài chính của quốc gia bội chi hoặc bội thu: Nếu cán cân thanh toán quốc tế bội chi: (chi > thu), thì quốc gia đó phải xuất ngoại tệ trả nợ, dẫn đến nhu cầu ngoại tệ gia tăng, cầu > cung, tỷ giá cho xu hướng tăng lên. Ngược lại nếu cán cân thanh toán quốc tế bội thu (thu > chi), nước ngoài trả nợ bằng ngoại tệ, dẫn đến cung ngoại tệ gia tăng, tỷ giá có xu hướng giảm.
Tuy nhiên sự biến động tăng giảm tỷ giá hối đoái nói trên chỉ xảy ra trong trường hợp điều kiện môi trường kinh tế ổn định không xảy ra những biến cố kinh tế - chính trị trọng đại, vì những biến động và chính trị, xã hội sẽ tác động nhanh chóng đến sự thay đổi của tỷ giá. Lãi suất (Interest rate) Phần lớn các nhà đầu tư với quy mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các công ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiền khác nhau khi tỷ giá và lãi suất của các đồng tiền này có chiều hướng thay đổi. Vấn đề quan trọng được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu thập đầu tư từ các đồng tiền khác nhau để có thể chắc chắn rằng họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất. Thông thường các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao, được thể hiện bằng cách khá phổ biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển đổi sang đồng tiền có lãi suất cao, sau đó đầu tư đồng tiền lãi suất cao bằng nhiều hình thức nhằm hưởng lợi nhuận do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền.
Điều này sẽ tạo nên sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá. Tuy nhiên trong suốt thời gian đầu tư hay cho vay, tỷ giá biến động tăng hoặc giảm sẽ tác động đến gia tăng thu nhập hoặc lỗ, nhà đầu tư bị rủi ro do sự gia tăng tỷ giá lớn hơn thu nhập do chênh lệch lãi suất của hai đồng tiền. Thực tế, thông thường đồng tiền có lãi suất cao có khuynh hướng lên giá, bởi vì sẽ có nhiều nhà đầu tư mua đồng tiền có lãi suất cao để cho vay nhằm thu lãi nhiều hơn. Ngang giá sức mua (purchasing power parrty) Ngang giá sức mua chính là sự so sánh và đo lường sức mua tương đối của hai đồng tiền, được tính toán bằng cách so sánh giá cả của cùng một số mặt hàng ở hai nước khác nhau được tính theo đồng tiền của hai nước.
Nếu cùng một số tiền ngang nhau người ta mua được một lượng hàng ngang nhau ở mọi nước thì như vậy mậu dịch quốc tế sẽ không có lãi và không kích thích ngoại thương phát triển, điều đó có nghĩa là các đồng tiền đều ở trong tình trạng ngang nhau về sức mua. Vì vậy cần phải hiểu nền tảng của ngang giá sức mua được thể hiện: nếu như một mặt hàng ở trong quốc gia này rẻ hơn thì xuất khẩu mặt hàng đó sang một nước khác giá đắt hơn thì sẽ có lời hơn, và ngược lại nếu một mặt hàng 17 trong quốc gia sản xuất đắt hơn so với giá thị trường nước ngoài thì tốt hơn hết nên nhập khẩu mặt hàng đó sẽ có lợi hơn.