Lời Mở Đầu Năm 2008 kinh tế thế giới diễn biến hết sức phức tạp và biến động nhanh chóng. Trong những tháng đầu năm, hầu hết các nền kinh tế thế giới phải tập trung đưa ra các giải pháp mạnh mẽ để chống lạm phát do “ con bão giá “ lan rộng trên toàn cầu. Giá dầu thô liên tục tăng cao, đến trung tuần tháng 7-2008 lên tới đỉnh điểm là 147 USD/thùng; giá gạo có thời điểm lên tới 1.200 USD/(tấn; giá vàng lên tới trên 950 USD/ounce. Các mức giá đó cao nhất trong hàng chục năm qua trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, USD mất giá mạnh so với các loại ngoại tệ chủ chốt khác, có thời điểm 1 EURO đổi được hơn 1,62 USD. Trước bối cảnh đó NHTV hàng loạt nước phải thực hiện thất chặt tiền tệ, tăng cao lãi suất chỉ đạo, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tuy nhiên kinh tế thế giới đã và đang biến đổi hết sức nhanh chóng vượt ra ngoài dự báo của NHTW, các định chế tài chính, các nhà khoa học kinh tế nổi tiếng, cũng như cả giới đầu cơ. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ khủng tín dụng thứ cấp nhà ở tại Mỹ đã nhanh chóng lan ra toàn cầu.
Tính đến nay có gần 20 Ngân hàng và định chế tài chính Mỹ bị đổ vỡ, nhiều ngân hàng khác tại châu Âu cũng bị quốc hữu hoá, sáp nhập, bị thôn tính, bị thua lõ nặng. Giá dầu mỏ sụt giảm với tốc độ “ khủng khiếp, đến đầu tháng 12-2008 cuống chỉ còn 40 USD/thùng, giá vàng cũng giảm nhanh, đồng USD mạnh lên so với các loại ngoại tệ mạnh khác trên thị trường quốc tế. Giá gạo và một số mặt hàng lương thực khác giảm hơn 2/3. Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ và nhiều quốc gia khác gla tăng, sức mua giảm.
Thương mại thế giới giảm tới 10%, mức giảm thấp nhất trong gần 20 năm qua. Thị trường chứng khoán sụt giảm thê thám, hàng nghìn tỷ USD bị bốc hơi. Trước sự đột ngột “ guay đầu ““ nhanh chóng như vậy của kinh tế thế giới, NHTYW các nước cũng đã phản ứng hết sức linh hoạt, ngay lập tức chuyển sang thực hiện chính sách tiền tệ nới lông, thực hiện cắt giảm mạnh mạnh lãi suất cơ bản, cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đưa về mức thấp nhất trong nhiều năm qua. Bộ tài chính và NHTW các nước bơm hàng chục tỷ USD, thậm chí hàng trăm tỷ USD và các nước châu Âu giành tới gần 3.000 tỷ USD để bơm vào hệ thống ngân hàng thương mại, bơm vào nền kinh tế, cứu một loạt định chế tài chính, đảm bảo thanh khoản cho các NHTM.
Đồng thời tăng mức bảo hiểm tiên gửi, hoặc cam kết bảo hiểm không có giới hạn tiền gửi cho người dân. Tuy nhiên cho đến nay cuộc khủng hoảng tài chính thế giới chưa có dấu hiệu được ngăn chặn hoàn toàn và không biết còn diễn ra tới đâu và tác động đến mức nào. Chỉ số chứng khoán trên các thị trường chứng khoán chủ chốt khác vẫn liên tục mất điểm. Đồng thời Chính phủ một loạt nước trên thế giới công bố các kế hoặch kích thích kinh tế khổng lồ để ngăn chặn đà uy giảm, thúc đẩy tăng trưởng.
Riêng Chính phủ Trung Quốc đưa ra kế hoặch tài chính trị giá tới 586 tỷ USD cho chương trình kích cầu nền kinh tế theo hướng nói trên. Nền kinh tế Việt Nam cũng chịu tác động ở mức độ khác nhau của kinh tế thế giới, cộng với những nguyên nội tại của nền kinh tế đất nước, của thiên tai, dịch bệnh, nên trong những tháng đầu năm 2008 lạm phát cũng tăng rất cao. Chỉ số CPI tăng cao nhất trong khoảng 16 năm qua. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngày từ đầu năm 2008, NHNN đã thực hiện đồng bộ các giải pháp that chặt tiền tệ để chống lạm phát, như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng các loại lãi suất chủ đạo, phát hành 20.300 tỷ đông tín phiếu bắt buộc đối với các NHTM, kiểm soát chặt chẽ vốn cho vay đầu tư chứng khoán, đầu tư bất động sản; tăng cường quản lý các bàn đại lý thu đổi ngoại tệ.
Sau đó, việc thắt chặt tiền tệ kiểm chế lạm phát đã có những tác động góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, dam bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, từ đầu tháng 9- 2008, cũng theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã chuyển dần sang linh hoạt hơn trong điều hành chính sách tiền tệ, tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất tín phiếu bất buộc của NHNN. Tiếp theo đó từ đầu tháng 10 đến đầu tháng 12-2008, NHNN thực hiện nhiều đợt giảm dân lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác do NHNN điều hành, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cho phép các TCTD được thanh toán trước hạn tín phiếu bắt buộc, nới rộng biên độ giao dịch ngoại tệ của NHTM với khách hàng.Đặc biệt là thời điểm đầu tháng 12-2008, góp phần thực hiện các giải pháp cấp bách ngăn chặn suy giảm kinh tế, khắc phục đình trệ sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chỉ đạo của Chính phủ, NHNN có các quyết định mang tính đồng bộ và mạnh mẽ hơn theo hướng linh hoạt hơn nữa trong điều hành chính sách tiền tệ. Những quyết định đó đã đưa lãi suất trên thị trường dần trở về tương ứng với mức trước khi thực hiện chính sách tiền tệ thất chặt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như của các thành phần kinh tế. Tuy nhiên những diễn biến kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước, sự tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu, cũng như điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ của NHNN đã tác động đến hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam, như thiếu thanh khoản, lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng cao, lãi suất huy động vốn tăng cao nhưng lãi suất cho vay nằm trong giới hạn của lãi suất cơ bản và luật dân sự.
Đến thời điểm hiện nay, mặc dù lãi suất cho vay đã giảm rất lớn nhưng vốn cho vay ra của các NHTM vẫn rất khó khăn. Nhìn chung nguồn thu của các NHTM bị giảm và quản trị điều hành của các NHTM cũng bị động, luôn phải xử lý với các tình huống xẩy ra. Để góp phần đánh giá khách quan, khoa học những kết quả đạt được và nhận diện đầy đủ những khó khăn, vướng mắc cần khắc phục và rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết, đề xuất giải pháp cho thời gian tới trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, Trfng Dai hoc Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với NHTM cổ phần Liên Việt tổ chức cuộc hội thảo với chủ đề: Tác động chính sách tiên tệ đối vớt hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam”. Sau hơn 1 tháng gửi thư mời viết bài cho hội thảo, đến nay Ban tổ chức đã nhận được hơn 46 bài viết của các nhà khoa học trong và ngoài ngành, các nhà hoặch định chính sách và nghiên cứu tại hệ thống NHNN và một số cơ quan khác có liên quan, cán bộ giảng dạy đào tạo tại một số trường đại học, học viện ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nhà quản trị điều hành NHTM và một số tác giả khác quan tâm đến vẫn đề này.
Đặc biệt là Ban tổ chức đã nhận được nhiều bài của cán bộ lãnh đạo các cấp, chuyên gia cao cấp trong hệ thống NHTM, NHTM cổ phần Liên Việt cho dù bận rất nhiều công việc kinh doanh nhưng cũng đã viết và gửi kịp thời tới hội thảo. Nội dung tất cả các bài tham luận đã bám sát vào chủ đề nói trên của hội thảo. Ban tổ chức đã tiến hành biên tập, phân loại thành 2 nhóm khác nhau và đóng thành tập kỷ yếu hội thảo. Ban tổ chức đánh giá cao những ý kiến đánh giá, phân tích, những để xuất gợi ý của các bài tham luận đối với Chính phủ, NHNN, các bộ ngành và cơ quan có liên quan, các NHTM.
Ban tổ chức cũng xin chân thành cảm ơn sự tham gia cộng tác nhiệt tình của các tác giả có bài viết và những người khác quan tâm tới chủ đề hội thảo. Ban tổ chức hội thảo “Hội chân đúng” - Kiêm chê lạm phát hiệu quả - tac động tích cực đên hoạt động kinh doanh của các ngân: hàng thương mại Việt Nam TSNguyén Đức Hưởng Phó chủ tịch HĐỌT, kiêm Tổng Giám đốc Lien VietBank Một trong những mục tiêu tối thượng của chính sách tiền tệ quốc gia là chống lạm phát. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang nổi lên mâu thuẫn giữa đầu tư tăng trưởng kinh tế với chống lạm phát. Trong chu ky qui dao phat triển: Cân bằng - lạm phát - phát triển - chống lạm phát - cân bằng mới.
Xét trong chu kỳ này giữa đầu tư tăng trưởng với chỗng lạm phát chúng vừa mâu thuẫn với nhau, đồng thời chúng lại thống nhất với nhau. Nhưng điều quan trọng nhất và có ý nghĩa quyết định đến xử lý mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế lại là nhận thức của các nhà lãnh đạo, quản lý kinh tế của một quốc gia khi nhìn nhận vấn đề lạm phát với những nội dung khác nhau thì sẽ dẫn đến những quan điểm khác nhau về xử lý lạm phát. Trong trường hợp này cũng như vậy. Thực tế ở nước ta khi chuyển nền kinh tế từ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường thì nhìn nhân về lạm phát đã theo xu hướng tích cực, tức là thực trạng nên kinh tế hàng hoá, do đó phải tính đến quan hệ tiền hàng, tính đến qui luật giá trị và tính đến vấn đề lạm phát để vừa đối phó với chúng, vừa sử dụng chúng một cách có lợi nhất cho phát triển kinh tế, vì nó là phạm trù "rất"hai mặt, nghĩa là rất lợi nếu làm đúng và cũng rất hại nếu làm sai.
Phủ định chúng thì thất bại rõ ràng; nhưng nếu công nhận chúng mà không thấy hết đặc điểm của chúng thì cũng khó mà thành công. Quan điểm giữa các nhà kinh tế học cỗ điển và các nhà kinh tế học hiện đại dần dần đã có sự thống nhất xích lại gần nhau. Tư tưởng đó là coi trọng sự cân bằng, và chú trọng đến sự tăng trưởng; con người có khả năng tham gia vào quá trình tạo lập cân bằng cũng như thúc đây tăng trưởng.