Chương I: Cơ sở lý luận chung về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của doanh nghiệp © Chương 2: Phân tích ảnh hưởng của một số nhân tố tới hiệu quả hoạt động. của doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam © Chương 3: Kết luận và hàm ý chính sách nghiên cứu. CHUONG1 CO SO LY LUAN CHUNG VE CAC NHAN TO ANH HUONG DEN HIEU QUA HOAT DONG CUA DOANH NGHIEP 1. Cơ sở lý luận chung về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1.
Khái niệm quả hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất phát từ khái niệm hiệu quả hoạt động, phản ánh quan điểm của nhiệm vụ quản lý chiến lược và là một cấu phần đánh giá hiệu quả của tổ chức (Venkatran & Ramanujan, 1986). Mỗi doanh nghiệp. hoạt động trong ngành nghề, lĩnh vực khác nhau cũng sẽ có những mục tiêu hoạt động khác nhau, từ đó thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp theo nghĩa chung nhất và dễ tiếp cận với đa số người đọc có thể hiểu là lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội mà một tổ chức hay cá nhận đạt được trong quá trình hoạt động của mình.
Hiệu quả hoạt động. của doanh nghiệp có thê bao gồm nhiều khía cạnh, như hiệu quả hoạt động sản xuất với doanh nghiệp sản xuất, hiệu quả hoạt động kinh doanh với những doanh nghiệp. diễn ra hoạt động kinh doanh, kể cả những doanh nghiệp sản xuất, hoặc hiệu quả hoạt động xã hội đối với các hoạt động của doanh nghiệp tới xã hội, Có nhiều quan điểm khác nhau về cách hiểu của hiệu quả hoạt động. Paule Samuelson (1991) cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một lượng hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Hướng tiếp cận này đề cập tới khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực kinh tế với mục tiêu tối đa hóa việc sử dụng các nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất, từ đó làm cho nên kinh tế đạt hiệu quả tối ưu. Nhà kinh tế học Manfred Kuhn (1991) cho ø, “Tính hiệu quả cao được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chỉ phí kinh doanh”. Bên cạnh đó, theo quan điểm tại giáo trình Thống kê doanh nghiệp của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (1997) cho rằng “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa.
Hiệu quả hoạt độngthê hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt được một mục tiêu nhất định”. quan điểm này, đối với những hình thái xã hội có quan hệ sản xuất khác nhau thì bản chất của phạm trù hiệu quả và những yếu tố hợp thành phạm trù hiệu quả vận động theo những khuynh hướng khác nhau. Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau, cách hiểu về “hiệu. quả hoạt động kinh doanh” cũng được thể hiện qua nhiều cách nhìn khác nhau.
Một số quan điểm của các nhà kinh tế học đi trước được tổng kết như sau: Nhà kinh tế học Adam Smith (1976) cho rằng "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá". Như vậy, hiệu quả được. đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chỉ phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất; Nhà kinh tế học Coelli (2005) cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh có thể xác định theo nhiều cách, thước đo để đo hiệu quả là một tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào”; Một số nhà kinh tế học quan điểm rằng “Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chỉ phí bỏ ra đề đạt được kết quả đó”; Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả hoạt độngkinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của chủ thể sản xuất kinh doanh để đạt được mục tiêu xác định với chỉ phí bỏ ra là nhỏ nhất. Hiệu quả hoạt động kinh doanh theo khái niệm rộng là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
cần phân định sự khác nhau và mối liên hệ giữa "kết quả" và "hiệu quả". Bản chất hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Từ khái niệm về hiệu quả hoạt động nêu trên, có thê hiểu bản chất của hiệu quả hoạt động là phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội và nó chính là hiệu quả của lao động xã hội được xác định trong mối tương quan giữa lượng kết quả cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội bỏ ra. hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phải được. xem xét một cách toàn diện cả về không gian và thời gian, cả về mặt định tính và định lượng.
'Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong từng thời kỳ, từng giai đoạn không được làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kỳ, chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Điều đó đòi hỏi bản thân doanh nghiệp không được vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Trong thực tế kinh doanh, điều này dễ xảy ra khi con người khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và cả nguồn lao động. Không thể coi tăng thu giảm chỉ là có hiệu quả khi giảm một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc các chỉ phí cải tạo môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, đầu tư cho giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực.
Hiệu quả hoạt độngchỉ được coi là đạt được một cách toàn diện khi hoạt động của các bộ phận mang lại hiệu quả không ảnh hưởng đến hiệu quả chung (về mặt định hướng là tăng thu giảm chỉ). Điều đó có nghĩa là tiết kiệm tối đa các chỉ phí kinh doanh và khai thác các nguồn lực sẵn có làm sao đạt được kết quả lớn nhất. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Như đã trình bày, trong phạm vi của luận văn này, người viết chủ yếu phân tích về các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Xuất phát từ các quan điểm khác nhau về hiệu quả hoạt động kinh doanh do đó tồn tại nhiều phương thức khác nhau đo lường hiệu quả hoạt độngcủa doanh nghiệp.
Nhìn chung, có hai hướng tiếp cận phô biến để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như sau: Hướng tiếp cận theo mục tiêu. Quan điểm này cho rằng tùy thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. được thể hiện qua hiệu quả tài chính hoặc hiệu quả phi tài chính. Đối với các doanh nghiệp có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận thì hiệu quả hoạt động được đo lường bằng các chỉ số tài chính, hay nói cách khác hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chính là hiệu quả tài chính.
Đối với doanh nghiệp không đặt mục tiêu hàng đầu là mục tiêu lợi nhuận thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đo. lường bởi các chỉ tiêu yếu tố phi tài chính, như hiệu quả quản lý, hiệu quả xã hội. Hướng tiếp cận theo hệ thống. Quan điểm này cho rằng, hiệu quả hoạt động, kinh doanh là hiệu quả tông quát của toàn hệ thống, được đo bằng hiệu quả của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp tạo nên.
Theo cách tiếp cận này có nhiều mô hình nhằm đo lường hiệu quả doanh nghiệp như: Điểm cân bằng của Kaplan & Norton (1992), Kim tự tháp smart của Lynch & Cross (1989), Ma trận đo lường hiệu quả của Keegan (1989) hay Lăng kính hiệu suất của Kennerly & Neely (2000). Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, mục tiêu nhằm xác định những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của một số doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo đa dạng ngành nghề, người viết chọn cách đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh theo hướng tiếp cận mục tiêu. Đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán, một trong số những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, do đó, hiệu quả hoạt động ở đây. được hiểu là hiệu quả tài chính.
Bên cạnh đó, mục tiêu về lợi nhuận cũng là mục tiêu giúp nâng cao và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp trên thị trường. Ngoài ra, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cũng hỗ trợ cho việc nâng cao lợi ích của chính người sử dụng lao động theo lý thuyết đại diện của Jensen và Meckling (1976). Do vậy, trong trường hợp này, cách tiếp cận hiệu quả hoạt động từ khía cạnh hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là hợp lý. Hiện nay, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp theo chỉ số kế toán phổ biến nhất bao gồm: ROE (“Retum On Equity” — Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu), ROA (“Return On Asset” — Tỷ suất lợi nhuận trên tông tài sản) và ROS (“Return On Sales” — Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần), a.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE - “Return On Equity”) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, được tính bằng tỷ suất giữa lợi nhuận sau thuế và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Công thức tính như sau: Lợi nhuận sau thuế Tỳ suất lợi nhuận trén von chit so hitu (%) = ——— x 100% Vồn chủ sở hữu 10 Chỉ tiêu ROE thê hiện một đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Về mặt lý thuyết, chỉ số ROE càng cao cho thấy khả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp càng hiệu quả. Nhằm tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, các nhà quản lý doanh nghiệp thường sử dụng phương pháp.
nâng cao doanh thu đồng thời với giảm chỉ phí kinh doanh đề tăng lợi nhuận thuần. Hoặc, nâng cao khả năng quay vòng vốn của doanh nghiệp, hay nói cách khác giảm thời gian quay vòng vốn, tạo ra nhiều doanh thu hơn từ việc sử dụng tài sản có sẵn của doanh nghiệp. Ngoài ra, phương pháp sử dụng đòn bẫy tài chính bằng vay vốn ngoài nhằm giảm phụ thuộc vào vốn chủ sở hữu cũng được các doanh nghiệp áp dụng nhằm làm tăng ROE.