CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LẠM PHÁT 1. Khái niệm lạm phát Theo quan điểm của Mác: Lạm phát là sự tràn ngập trong lưu thông một khối lượng tiền giấy quá thừa, dẫn đến sự mất giá của tiền giấy, dẫn đến sự phân phối lại thu nhập quốc dân có lợi cho giai cấp thống trị và làm thiệt hại quyền lợi của nhân dân lao động. Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, theo Paul Samuelson: Lạm phát xảy ra khi mức chung về giá cả và chi phí thời kỳ này tăng lên so với thời kỳ trước. Điều này có nghĩa là: cứ khi mức giá chung tăng lên là có lạm phát.
Chẳng hạn như hàng tháng, khi cơ quan thống kê công bố mức giá cả tháng này tăng bao nhiêu phần trăm (%) so với tháng trước, thì theo P.Samuelson tháng đó có lạm phát. Quan điểm của các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là Milton Friedman, đều cho rằng lạm phát không chỉ đơn thuần là sự tăng lên của mức giá chung như Samuelson khẳng định mà nó phải là sự gia tăng liên tục kéo dài của mức giá chung. Có nghĩa là: nếu mức giá chung chỉ tăng trong tháng này (có thể do tác động của tính mùa vụ như dịp Tết) và ngay lập tức giảm trong những tháng kế tiếp thì đó không phải là lạm phát, chỉ khi mức giá chung gia tăng liên tục trong nhiều tháng, nhiều năm thì mới gọi là lạm phát. Quan điểm này cũng được chia sẻ bởi John Maynard Keynes.
Trong vài năm gần đây, một khái niệm mới được nhiều người nhắc đến là “lạm phát cơ bản”. Khái niệm này xuất phát từ thực tiễn rằng lạm phát chỉ số giá tiêu dùng đôi khi biến động rất thất thường, nếu chính sách tiền tệ (CSTT) phản ứng với những biến động này có thể đem lại những hậu quả không tốt cho nền kinh tế. Lạm phát cơ bản là lạm phát thể hiện sự thay đổi giá cả mang tính dài hạn, loại bỏ những biến động tạm thời, điều đó sẽ giúp cho CSTT phản ứng chính xác hơn với các biến động giá cả. Do đó, thước đo lạm phát cơ bản được tính bằng lạm phát chỉ số giá tiêu dùng loại trừ các yếu -4- tố biến động tạm thời là năng lượng, lương thực.
Lạm phát cơ bản tăng chính là chỉ báo rằng lạm phát dự kiến sẽ còn tăng trong dài hạn và khi đó CSTT cần phải ứng phó kịp thời để kiềm chế lạm phát. Khi định nghĩa lạm phát ta cũng cần quan tâm đến hai khái niệm tương đối gần với lạm phát đó là giảm phát và thiểu phát. Giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống liên tục. Lạm phát và giảm phát là hai hiện tượng khác nhau trong sự vận động ngược chiều của giá cả, còn thiểu phát là sự giảm dần trong sự tăng của mức giá chung, tức là mức giá có tăng nhưng với mức độ chậm hơn.
Hiện tượng này được xem là một quá trình giảm dần lạm phát do tác động tích cực của chính sách chống lạm phát của chính phủ, và trong một số trường hợp khác, thiểu phát là kết quả thuần túy của các lực lượng thị trường. Đo lường lạm phát Trong thực tế, có nhiều thước đo để đo lường biến động giá cả của các quốc gia, hay chính là đo lường lạm phát như: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá sản xuất (Production Price Index - PPI), chỉ số giảm phát GDP (GDP deflator)… nhưng chỉ số giá tiêu dùng vẫn được coi là thước đo phổ biến nhất để đo lường lạm phát và được quan tâm nhiều nhất vì biến động chỉ số giá tiêu dùng phản ánh biến động trong mức sống của người dân. Do đó, khi nền kinh tế có lạm phát có nghĩa là có sự gia tăng liên tục và kéo dài của chỉ số giá tiêu dùng. Vì sự thay đổi giá cả các hàng hóa và dịch vụ không đều nhau, có một số mặt hàng giá tăng nhanh, một số khác tăng chậm, thậm chí có mặt hàng giảm giá, nên để đo lường sự thay đổi mức giá, việc tính mức giá bình quân thông qua các chỉ số giá được sử dụng: 1.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Consumer Price Index) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được sử dụng một cách phổ biến trong việc đánh giá mức lạm phát. CPI đo lường mức giá cả bình quân của một nhóm hàng hoá và dịch vụ cần cho tiêu dùng của các hộ gia đình. Để xác định chỉ số giá tiêu dùng, người ta chọn ra một giỏ hàng hóa và dịch vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình trong một giai đoạn -5- nhất định, đồng thời xác định mức độ quan trọng của từng hàng hóa và dịch vụ trong giỏ. CPI được tính theo phương pháp bình quân gia quyền và được tính bằng công thức: n t 0 pq i i pit I t 0 i 1 n w 0 0 i pi i 1 0 0 pq i i Trong đó: It-0: chỉ số giá kỳ báo cáo t so với kỳ gốc pti: giá mặt hàng i kỳ báo cáo t p0i: giá mặt hàng i kỳ gốc w0i: quyền số cố định năm gốc Việc đo lường và lấy CPI làm cơ sở phản ánh lạm phát có những ưu điểm và nhược điểm chính sau: Ưu điểm: Cách đánh giá này cân nhắc tầm quan trọng của từng loại hàng hóa trong giỏ hàng hóa theo quyền số của chúng, vì vậy cách đánh giá này khá đơn giản, có ý nghĩa thiết thực trong đời sống hàng ngày và hiện nay nó được sử dụng phổ biến nhất.
Hạn chế: Cách đánh giá này chỉ phản ánh sự biến động giá của hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng được lựa chọn mà không phản ánh được sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình và chất lượng hàng hóa, dịch vụ nếu không thường xuyên điều tra xác định lại các hàng hóa dịch vụ được lựa chọn và cơ cấu tiêu dùng. Hơn nữa, chỉ số giá tiêu dùng cũng không tính đến tác động thay thế của các mặt hàng khi giá cả gia tăng, do đó nó thường phản ánh quá cao mức lạm phát so với thực tế. Tại Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng được tính căn cứ vào giỏ hàng hóa và dịch vụ bao gồm 10 nhóm cấp I; 32 nhóm cấp II; 86 nhóm cấp III và 237 nhóm cấp IV. Cứ sau 5 năm, Tổng cục Thống kê lại thực hiện điều tra để điều chỉnh quyền số cho giỏ hàng hóa.
Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Chỉ số này đo lường mức giá bình quân của tất cả các hàng hóa và dịch vụ tạo nên tổng sản phẩm quốc nội, được xác định theo công thức sau: -6- GDP danh nghĩa Chỉ số giảm phát GDP = x 100% GDP thực tế Tỉ lệ lạm phát sau đó được tính trên cơ sở các chỉ số giảm phát GDP được xác định tương tự như khi tính CPI. Tuy nhiên trong thực tế, người ta ít dùng chỉ số này vì khó liệt kê tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ nhất là những hàng hóa và dịch vụ không công khai như hàng buôn lậu và trốn thuế cũng như nó ít có ý nghĩa trong thực tiễn trong việc đánh giá mức giá chung khi nó cho rằng tất cả các loại hàng hóa với vai trò như nhau, không kể là hàng hóa để đầu tư hay tiêu dùng, đồng thời nó cũng không tính đến giá các hàng hóa nhập khẩu được tiêu dùng trong giỏ hàng hóa CPI. Chỉ số lạm phát cơ bản Thực tiễn nền kinh tế hiện đại ngày nay đã cho ra đời một loại chỉ số lạm phát cũng sử dụng chỉ số giá nhưng có thể khắc phục được những nhược điểm và phát huy được những ưu điểm của chỉ số lạm phát truyền thống, đó là chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation). Loại chỉ số lạm phát hiện đại này đã được Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhiều nước áp dụng trên cơ sở sử dụng chỉ số giá cả CPI đã loại trừ hay giảm quyền số truyền thống một số yếu tố như những mặt hàng mà giá cả có tính thay đổi thường xuyên, ít nhạy cảm với công cụ chính sách tiền tệ của NHTW như dầu mỏ hay lương thực.
Tuy nhiên hiện nay việc sử dụng chỉ số lạm phát cơ bản chưa được ứng dụng trên phạm vi rộng rãi, vẫn có những ý kiến khác nhau trong việc đồng thuận áp dụng chỉ số này. Trên thế giới, những nước khác nhau có những cách loại bỏ những mặt hàng khác nhau khi điều chỉnh CPI, chẳng hạn loại bỏ lãi suất cầm cố như ở Anh, Tây Ban Nha và New-Zealand, loại bỏ thuế gián tiếp ở Canada, Phần Lan và Cộng hòa Séc, loại bỏ trợ cấp chính phủ ở Phần Lan, ngoài ra còn có chi phí nhà ở, lương thực và một số mặt hàng năng lượng tiêu biểu. Ở Việt Nam, việc sử dụng chỉ số lạm phát cơ bản vẫn đang ở trong giai đoạn “thai nghén”, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang bước đầu phối hợp với Tổng cục Thống kê để tính toán và đưa vào ứng dụng chỉ số lạm phát cơ bản với định hướng sử dụng chỉ số này song song với chỉ số lạm phát truyền -7- thống nhằm đánh giá hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ khi không có những ảnh hưởng ngoài phạm vi của NHNN. Hiện nay trên thế giới có nhiều phương pháp đo lường lạm phát cơ bản phụ thuộc vào quan điểm cũng như điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Có thể phân chúng thành 3 nhóm cơ bản là phương pháp cơ học (phương pháp loại trừ), phương pháp thống kê và phương pháp hồi quy. Phân loại lạm phát Việc nghiên cứu các loại lạm phát giúp chúng ta hình dung rõ những đặc điểm của từng loại lạm phát cũng như ảnh hưởng tiềm năng của chúng từ đó có các giải pháp kiềm chế lạm phát thích hợp. Theo quy mô hay mức độ lạm phát có thể chia ra 3 loại lạm phát cơ bản như sau: 1. Lạm phát vừa phải Lạm phát vừa phải (Moderate inflation) là loại lạm phát phổ biến, có tỷ lệ dưới 10%, tồn tại thường xuyên trong hầu hết các nền kinh tế.
Không như những loại lạm phát khác, tác động tích cực của nó hầu như là lớn hơn nhiều so với tác động tiêu cực. Lạm phát phi mã Lạm phát phi mã là loại lạm phát mà mức độ giá chung tăng rất nhanh từ hai con số đến ba con số, tức là trên 10%/năm đến dưới 100%/năm. Tại đây Chính phủ phải có những biện pháp kịp thời và hiệu quả nếu không sẽ dẫn đến siêu lạm phát.