chương 1 giới thiệu trình bày tổng quan các nội dung chính của luận văn và giải thích lý do tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu. Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết, nội dung, phương pháp và kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trước đây. Chương 3 mô tả mẫu dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và giải thích các biến được sử dụng để phân tích. Chương 4 thảo luận về những kết quả thực nghiệm.
Chương 5 kết luận của luận văn. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan lý thuyết về lạm phát và NPKC Các lý thuyết hiện đại về lạm phát của Samuelson và Nordhaus (2005) trong cuốn sách của mình “Kinh tế vĩ vô, bản thứ 18” cho thấy có ba nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát: cầu đẩy, chi phí đẩy và các kỳ vọng lạm phát trong tương lai cũng như lạm phát trong quá khứ. Lạm phát cầu đẩy diễn ra khi tổng cầu tăng không ổn định dẫn đến việc gia tăng các áp lực lên nguồn lực kinh tế và GDP thực lớn hơn GDP tiềm năng, tức là khe hở sản lượng dương.
Một sự gia tăng trong tổng cầu có thể đến từ nhiều nguyên nhân như người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn, hoặc cũng có thể do lãi suất giảm, thuế bị cắt hay đơn giản là niềm tin của người tiêu dùng gia tăng… Và một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là sự gia tăng trong cung tiền mở rộng – tổng tiền trong nền kinh tế trong một thời điểm làm gia tăng tổng cầu, từ đó làm giá cả tăng lên. Điều này sẽ dẫn đến lạm phát nếu cầu tăng nhanh hơn cung. Lạm phát chi phí đẩy: cách tiếp cận này dựa trên nguyên nhân là sự gia tăng trong chi phí các nhân tố sản xuất. Khi chi phí sản xuất tăng cao, sản lượng giảm sút.
Cung bị giảm dẫn đến giá tăng. Theo đó, người lao động yêu cầu mức lương cao hơn và điều này lại dẫn đến tăng chi phí. Mà nguyên nhân chi phí các nhân tố sản xuất tăng cao có thể do giá dầu, sự phá giá đồng tiền dẫn đến giá nhập khẩu các nguyên liệu tăng cao, lãi suất tăng khiến chi phí vay nợ tăng cao… Kỳ vọng lạm phát thời gian gần đây được xem là một nhân tố quan trọng trong việc dự báo lạm phát và luôn được các nhà kinh tế, các nhà chính 7 sách theo dõi. Bởi những kỳ vọng này ảnh hưởng lên hành vi của người dân theo nhiều cách khác nhau và có ảnh hưởng lâu dài lên lạm phát.
Trong khi đó, khi nghiên cứu về lạm phát theo hướng của Phillips (1958) và Lipsey (1950) phát triển dựa trên mô hình đường cong Phillips, việc bổ sung vai trò kỳ vọng về lạm phát vào mô hình của Friedman (1960) và Edmund Phelps (1967) và những cải biên, chỉnh sửa gần đây của Fischer (1977) và Taylor (1979) đã khẳng định vai trò quyết định lớn đến lạm phát hiện tại và tương lai của lạm phát kỳ vọng. Các kết quả của Calvo (1983) và Gali và Gertler (1999) cũng góp phần khẳng định thêm điều này. Vì vậy, việc xác định các nhân tố kỳ vọng này sẽ giúp các nhà hoạch định dự báo được lạm phát trong tương lai. NPKC mô tả mối quan hệ giữa lạm phát và kỳ vọng của các đại diện trong nền kinh tế về lạm phát tương lai, chi phí biên hay khe hở sản lượng.
Thông qua NPKC, lạm phát sẽ có xu hướng tăng khi khe hở sản lượng tăng, vì lúc này, chi phí cao được chuyển vào giá cả và khi lạm phát kỳ vọng tăng cao, các đại diện kinh tế sẽ tăng giá hôm nay để phản ánh mức giá cao hơn ở hôm sau. Gali và Gertler (1999), Whelan, Karl (2005) đã phát triển mô hình NKPC thành dạng sau: = + Ε {π }+γ π Ε {π } = (− +π −γ π )/ Từ mô hình trên, có thể thấy lạm phát kỳ vọng chịu sự tác động rất lớn từ lạm phát quá khứ và hiện tại. Các nghiên cứu của Woodford (2003) và Christiano, Eichenbaum và Evans (2005) bổ sung thêm vai trò của lạm phát quá khứ vào mô hình NPKC. Đây là nhân tố có vai trò rất quan trọng quyết định đến lạm phát hiện tại và tương lai.
Nhân tố này giúp xác định yếu tố kỳ vọng của lạm phát. Cách thức hình thành kỳ vọng trong NPKC: Kỳ vọng về lạm phát của dân chúng có được thông qua các tổ chức điều tra độc lập như Michigan, Reuters hoặc các cuộc điều tra hộ gia đình của “Survey of Profession Forecasters”. Dân chúng có thể đưa ra những dự đoán của mình về lạm phát trong năm tới bằng với lạm phát của năm vừa qua hoặc là trung bình của vài năm gần đây. Nếu dự đoán như vậy thì gọi là kỳ vọng thích nghi.
Họ có thể không chỉ dựa vào quá khứ để đoán tương lai mà còn sử dụng những thông tin hiện tại để giúp mình dự đoán. Với cách này, các nhà kinh tế học gọi là kỳ vọng hợp lý. Giữa những nhà kinh tế có quan điểm khác nhau về sự hình thành kỳ vọng thích nghi hay hợp lý. Có ba trường hợp cơ bản cho việc hình thành kỳ vọng: Khi lạm phát ở mức thấp trong suốt một khoảng thời gian dài, kỳ vọng sẽ “tĩnh” – nói cách khác, các tổ chức cá nhân (hộ kinh doanh và doanh nghiệp) sẽ không còn lo lắng về lạm phát và làm ngơ trước sự thật rằng mức lạm phát có thể thay đổi.
Khi lạm phát ở mức tương đối cao, người ta đã không thể làm ngơ được nữa. Nếu sự thay đổi trong tỷ lệ lạm phát diễn ra chậm, mức lạm phát của năm sau có thể dự tính được trên cơ sở mức lạm phát của năm trước – hay nói cách khác, khi đó kỳ vọng có khả năng thích ứng, tức là phụ thuộc vào các giá trị quá khứ của lạm phát. Đường cong Phillips trong trường hợp này có công thức: = +. + Đường cong sẽ dịch chuyển lên hoặc xuống tùy thuộc vào mức lạm phát của năm ngoái cao hay thấp hơn mức lạm phát của năm kia.
Theo kỳ vọng thích ứng, tỷ lệ lạm phát sẽ tăng (giảm) theo thời gian nếu > 0 ( < 0), tức là − =. 9 Khi những điều kiện cơ bản và chính sách của chính phủ thay đổi nhanh chóng, kỳ vọng thích ứng sẽ dẫn tới những sai lầm to lớn và đắt giá. Trong những tình huống như vậy, các tổ chức cá nhân sẽ điều chỉnh kỳ vọng không phải dựa vào quá khứ, mà dựa trên cơ sở nhìn về phía trước và cố đoán biết các chính sách mà chính phủ sẽ ban hành trong tương lai. Hay theo cách khác, các tổ chức cá nhân sẽ bỏ qua kỳ vọng thích ứng và chuyển sang kỳ vọng hợp lý.
Một điều thú vị là, khi các chính sách của chính phủ được tiên đoán m ột cách hoàn hảo thì chúng sẽ chẳng còn tác dụng gì cho nền kinh tế thực khi kỳ vọng được hình thành m ột cách hợp lý. Vì vậy, nếu chính phủ tuyên bố rằng sẽ tăng chi tiêu để tăng tỷ lệ việc làm, các tổ chức các nhân sẽ ngay lập tức điều chỉnh tăng tỷ lệ lạm phát kỳ vọng (đường cong Phillips dịch chuyển lên trên) và chính sách sẽ không có hiệu quả gì ngoài việc làm tỷ lệ lạm phát tăng cao hơn. Quá trình hình thành kỳ vọng cũng ảnh hưởng khác nhau lên hiệu quả của chính sách kinh tế. Nếu dân chúng hành động theo kiểu kỳ vọng thích nghi thì chính sách sẽ có công hiệu hơn là kỳ vọng hợp lý.
Trong thực tế, doanh nghiệp và người lao động sẽ thực hiện mặc cả tiền lương của mình trong giai đoạn làm việc bằng cách hình dung giá cả của giai đoạn đó như thế nào. Một khi người lao động dự đoán rằng vào lúc vào lúc mà mình nhận lương giá cả sẽ tăng gấp đôi thì chắc chắn rằng ngày đặt bút ký hợp đồng lao động hôm nay là cơ hội tốt nhất để họ yêu cầu doanh nghiệp phải tăng tiền lương của mình, ít nhất là gấp đôi, nếu không muốn sắp tới phải ăn chỉ bằng một nửa của ngày hôm nay. Và nếu chủ doanh nghiệp cũng đồng ý chuyện này, nghĩa là sẽ trả lương tăng gấp đôi, thì không có lý do gì họ không tăng giá bán sản phẩm để bù vào phần chi phí tăng lương (và cả những nguyên liệu đầu vào mà họ cũng nghĩ là 10 tăng). Như vậy, khi cả hai bộ phận này trong dân chúng cùng có một kỳ vọng về giá cả trong tương lai tăng gấp đôi thì chắc chắn nó sẽ tăng ít nhất là gấp đôi.
Rõ ràng là, sự tăng giá này chẳng phải bắt nguồn từ tăng tiền quá mức, biến động giá tương đối như tỷ giá hay sự thay đổi cấu trúc của nền kinh tế. mà bắt nguồn từ yếu tố kỳ vọng. Các chính sách chống lạm phát sẽ khó khăn hơn khi mà yếu tố kỳ vọng chưa ổn định. Diễn biến lạm phát kỳ vọng theo mô hình NPKC ở Việt Nam giai đoạn từ Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 Vào đầu năm 2007, nền kinh tế Việt Nam lúc này còn rất lạc quan, thị trường chứng khoán, bất động sản có giá tăng rất nhanh, FDI và FPI tăng rất mạnh và lớn nên dù cán cân tài khoản vãng lai bị thâm hụt nặng nhưng Ngân hàng nhà nước (NHNN) vẫn có thể âm thầm mua vào ngoại tệ mà không gây sức ép lên tỷ giá.
Lúc này nền kinh tế vẫn rất ổn định trên đường Phillips có lạm phát kỳ vọng thấp. Chỉ sau đó ít lâu đến quý 4 năm 2007, lạm phát ở Việt Nam, lần đầu tiên sau nhiều năm, vượt qua ngưỡng một con số. Cũng trong năm 2007, chính sách tiền tệ của NHNN thể hiện qua các biện pháp hành chính vào lãi suất và tăng trưởng tín dụng đã có tác dụng không nhỏ lên lãi suất. Thực tế là lãi suất liên ngân hàng một tháng trung bình cho cả quý giảm từ 8.26% trong quý 1 xuống 5.55% trong quý 3, điều này cho thấy nền kinh tế đã được nới lỏng một cách gián tiếp.
Trong quý 4 năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện siết thanh khoản làm lãi suất liên ngân hàng tăng trở lại lên 6. Nhưng lần thắt chặt này đã khiến nền kinh tế rời khỏi đường Phillips rất nhanh. Vì vậy đầu năm 2008, NHNN nâng tất cả các loại lãi suất chính sách, phát hành 20,000 tỷ tín phiếu bắt buộc để rút thanh khoản về, đặt trần tăng trưởng tín dụng và chấm dứt tích lũy dự trữ ngoại tệ.