CHƯƠNG 1 Trong chương này, luận văn đã nêu ra được cấu trúc của bài đặc biệt là mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu. Đây là những vấn đề trọng tâm của đề tài mà các chương phía sau của luận văn sẽ có nhiệm vụ làm sáng tỏ. Trong chương này cũng đề cập trực tiếp đến các biến số sử dụng trong mô hình đại diện cho ba nhân tố của nền kinh tế. Biến lạm phát đại diện cho lạm phát, biến tăng trưởng kinh tế đại diện cho tốc độ tăng trưởng kinh tế, và ba biến tỉ lệ vốn hóa thị 6 trường, tỉ số vòng quay, doanh số giao dịch đại diện cho sự phát triển cho thị trường chứng khoán.
Dữ liệu của các biến số này được thu thập tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2016. Mốc thời gian khởi đầu đánh dấu cho sự bắt đầu hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam. Ngoài ra, chương này cũng xác định rõ các phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ sử dụng, quan trọng nhất là phương pháp định lượng bằng mô hình hồi quy VECM kết hợp với kiểm định nhân quả Granger. Đây là cơ sở để luận văn tiếp cận mối quan hệ giữa các nhân tố trên phương diện toán học.
Bên cạnh việc sử dụng phương pháp định lượng, tác giả cũng sử dụng phương pháp phân tích, thống kê để so sánh kết quả mô hình định lượng với thực tế diễn biến của ba nhân tố này trong nền kinh tế Việt Nam từ năm 2001 đến 2016. Cuối cùng, tác giả nêu ý nghĩa của luận văn về mặt nghiên cứu khoa học và đồng thời đóng góp cơ sở cho các giải pháp của các nhà hoạch định chính sách. 7 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết Lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của thị trường chứng khoán là một trong những chỉ tiêu của kinh tế vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia. Các nhà quản lí cũng như các nhà nghiên cứu về kinh tế luôn nỗ lực nghiên cứu để làm sáng tỏ về mối quan hệ của một nhân tố này tác động tới các nhân tố còn lại hoặc sự ảnh hưởng của nhiều biến số vĩ mô khác đến một trong ba nhân tố lạm phát, tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán.1 Một số khái niệm về lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường chứng khoán 2.1 Lạm phát Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng: “lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng như giá bánh mì, xăng dầu, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng”.
Ông thấy rằng lạm phát chính là biểu thị sự tăng lên của giá cả. Còn đối với Friedman (1970) “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Một số nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền như Friedman cũng đồng quan điểm với ông và cho rằng “lạm phát là hiện tượng tiền được cung ứng nhiều hơn mức cần thiết hoặc là do khối lượng tiền thực tế trong lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết”. Học thuyết Keynes, đưa ra ba nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát: do chi phí đẩy, do cầu kéo và lạm phát dự kiến.
Dù là xuất phát từ nguyên nhân nào thì lạm phát đều có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế theo hướng tích cực lẫn tiêu cực. Tăng trưởng kinh tế tăng dần của một quốc gia phần nào được biểu diễn bởi sự gia tăng của lạm phát nhưng khi lạm phát đạt đến một ngưỡng nhất định sẽ tác động trở lại ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. 8 Trong kinh tế học vĩ mô hiện đại, theo Gregory Mankiw (2010) lạm phát biểu hiện cho sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ trong một khoảng thời gian.
Khi so sánh giữa các nền kinh tế, lạm phát được hiểu là sự giảm giá trị tiền tệ của quốc gia này so với đơn vị tiền tệ của quốc gia khác.2 Tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Theo lý thuyết Growth Theory của Robert Solow có ghi nhận tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay biểu thị của sự tăng trưởng thông qua sự dịch chuyển của đường giới hạn khả năng sản xuất về bên phải. Theo Gregory Mankiw (2010), GDP là một chỉ tiêu tốt nhất để xem xét liệu rằng nền kinh tế có diễn biến tốt hay không. Ông dẫn chứng tại Mỹ, GDP được tính toán hàng quý bởi Cục Phân tích Kinh tế, một bộ phận của Bộ Thương mại Hoa Kỳ.
Mục đích của việc thống kê GDP ở Mỹ là nhằm để tổng hợp tất cả các dữ liệu về các sản phẩm cuối cùng được tạo ra từ các cơ sở, công ty sản xuất, các trang trại. thể hiện theo giá trị đồng đô la của hoạt động kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Ngày nay, tăng trưởng kinh tế là nhân tố chính đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục nghèo đói, lạc hậu, hướng tới sự phát triển, thịnh vượng.
Nhờ vào việc tăng vốn đầu tư, tiến bộ trong khoa học - công nghệ và nâng cao chất lượng giáo dục cộng với đào tạo được coi là những nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong những năm gần đây, ý tưởng phát triển bền vững đã mang lại các yếu tố bổ sung như các quy trình phát triển 9 kinh tế thân thiện với môi trường phải được tính đến khi đi kèm với tăng trưởng kinh tế.3 Thị trường chứng khoán Theo như định nghĩa của nhật báo The Economic Times thì thị trường chứng khoán là nơi mà các loại giấy tờ có giá niêm yết được trao đổi, mua bán công khai. Tại điều 6 Luật Chứng Khoán năm 2006 được ban hành bởi Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có giải thích thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán. Dựa vào hai dẫn chứng phía trên, có thể nhận thấy điểm chung của thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi các loại giấy tờ có giá.
Căn cứ vào hình thức hoạt động, thị trường chứng khoán được chia làm hai loại là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các loại chứng khoán mới phát hành, tại đây vốn được chuyển từ nhà đầu tư sang chủ thể phát hành. Sau khi được phát hành, chào bán ra công chúng thì các loại chứng khoán này được giao dịch trên thị trường thứ cấp. Chức năng chính của thị trường thứ cấp là nơi tập trung vốn của nền kinh tế bên cạnh hệ thống ngân hàng thương mại, có vai trò tập hợp và chu chuyển vốn nhàn rỗi đến các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn để phân bổ vào các ngành sản xuất.
Từ đó, nếu vốn được phân bổ hợp lí sẽ tạo cho sản xuất phát triển kéo theo việc gia tăng sản lượng cho quốc gia. Theo Minh (2006) song song với mục đích chu chuyển vốn thì việc mua bán chứng khoán trên thị trường sẽ giúp cho tính thanh khoản của chứng khoán được cải thiện. Từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán, giúp các công ty niêm yết có thể thu về được nhiều vốn khi phát hành mới chứng khoán và sau khi được 10 đưa ra lưu thông chứng khoán có thể dễ dàng chuyển đổi sang các chủ thể khác tham gia mua bán. Do mục tiêu của bài nghiên cứu là phân tích tác động của mối quan hệ giữa 3 nhân tố của nền kinh tế: lạm phát, sự phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế nên nền tảng lý thuyết sẽ bắt nguồn từ những cơ sở lý luận diễn tả tác động nhân quả của nhân tố này đến các nhân tố còn lại.2 Một số lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết về mối quan hệ nhân quả giữa sự phát triển thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế.
Lý thuyết phản hồi (the feedback hypothesis) được Schumpeter (1912) xây dựng nhằm giải thích mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tài chính của quốc gia và sự phát triển kinh tế. Trong giả thuyết này, tác giả khẳng định rằng một quốc gia có hệ thống tài chính phát triển tốt có thể thúc đẩy sự mở rộng kinh tế thông qua việc thay đổi công nghệ, đổi mới sản phẩm và dịch vụ tài chính để cung cấp đến nhiều chủ thể kinh tế góp phần giải quyết tốt nhu cầu về vốn cho sản xuất. Ngược lại, khi nền kinh tế ngày càng được phát triển, các chủ thể kinh tế sẽ đòi hỏi cao hơn về các sản phẩm và dịch vụ tài chính về tính linh hoạt, khả năng tiện ích và mức sinh lời cao hơn. Theo lý thuyết về nguồn cung dẫn dắt (the supply - leading theory) và nguồn cầu phụ thuộc (the demand – following theory) được Patrick (1966) đưa ra nhằm nêu lên mối quan hệ giữa sự phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế.
Trong đó, lý thuyết nguồn cung dẫn dắt cho rằng sự phát triển của hệ thống tài chính sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Các tổ chức tài chính hiện đại sẽ có nhiệm vụ cung cấp những khoản vốn lớn cho các chủ thể kinh tế mà đặc biệt là những tập đoàn, công ty có quy mô lớn thuộc các lĩnh vực về nông nghiệp và công thương nghiệp. Lý thuyết này đã đưa ra ý tưởng rằng mối quan hệ giữa tài chính và tăng trưởng có thể thay đổi theo thời gian, đặc biệt ở giai đoạn đầu, phát triển tài chính sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên 11 khi tăng trưởng thực sự diễn ra trong nền kinh tế, liên kết này trở nên ít quan trọng hơn và sự tăng trưởng sẽ tạo ra nhu cầu cho các dịch vụ tài chính lớn hơn.
Ngược lại, giả thuyết nguồn cầu phụ thuộc thì đưa ra giả định là khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thực sự xảy ra trong một quốc gia nó sẽ thúc đẩy hệ thống tài chính phát triển.