Chương 1 đã giới thiệu lý do hình thành đề tài nghiên cứu, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu. Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Phần cơ sở lý thuyết bao gồm các khái niệm, phân loại chiến lược đa dạng hóa, các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp, và giả thuyết nghiên cứu. Phần nghiên cứu trước, tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu trước về tác động của đa dạng hóa, nguy cơ phá sản tại Việt Nam và trên thế giới.
Lý thuyết về đa dạng hóa 2. Khái niệm về đa dạng hóa Theo Rumelt (1982) thì đa dạng hóa được định nghĩa là khi doanh nghiệp mở rộng sản xuất và bán những sản phẩm không có ảnh hưởng lẫn nhau trên thị trường (không có độ co giãn giá chéo) với mỗi loại sản phẩm khác của doanh nghiệp. Do thiếu sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các sản phẩm trên thị trường nên việc đánh giá kết quả hoạt động của đa dạng hóa chủ yếu tập trung vào 2 yếu tố đó là: thị phần của sản phẩm và tác động của đa dạng hóa đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, Rumelt (1982) còn sử dụng lý thuyết Tân cổ điển về quy mô của doanh nghiệp (The Neoclassical Theory of Firm Size) để giải thích về tác động của đa dạng hóa sản phẩm, lý thuyết này đánh giá mức độ đa dạng hóa sản phẩm dựa trên sự cân đối của tính kinh tế theo phạm vi với tính phi kinh tế theo quy mô của doanh nghiệp.
Tính kinh tế theo phạm vi sẽ xảy ra khi có 3 điều kiện sau. Một là, lợi nhuận tiếp tục tăng theo quy mô trong việc sử dụng thêm một hay nhiều hơn một Trang 17 Luận văn tốt nghiệp Chương 2: Cơ sở lý thuyết yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Hai là, phát sinh chi phí giao dịch ngăn cản tính hiệu quả của thị trường. Ba là, tồn tại một giới hạn làm cản trở việc mở rộng thêm sản phẩm phụ từ thành phẩm chính.
Rumelt (1982) gọi chi phí giao dịch và sự gia tăng của lợi nhuận là những yếu tố cốt lõi (core factors) trong việc quyết định thực hiện đa dạng hóa. Nếu doanh nghiệp có thể khai thác triệt để tất cả tính kinh tế theo quy mô chỉ với một sản phẩm chính thì không cần thiết phải đa dạng hóa để làm tăng tính hữu dụng của yếu tố cốt lõi. Phân loại đa dạng hóa Đa dạng hóa sản phẩm không liên kết (Unrelated Diversification) Đa dạng hóa sản phẩm không liên kết xảy ra khi doanh nghiệp tham gia vào một lĩnh vực sản xuất sản phẩm mới mà không có bất kỳ sự liên kết nào với sản phẩm hiện tại. Doanh nghiệp lựa chọn đa dạng hóa sản phẩm không liên kết khi ngành kinh doanh chính của doanh nghiệp không còn cơ hội tăng trưởng hơn nữa (Rumelt, 1974).
Những nghiên cứu thực nghiệm sau này về đa dạng hóa sản phẩm chủ yếu tập trung vào chi phí như: sự đầu tư quá mức, trợ cấp chéo (cross-subsidization) giữa các ngành và thông tin bất cân xứng để giải thích rằng đa dạng hóa sản phẩm không làm gia tăng giá trị cho doanh nghiệp. Cụ thể, đa dạng hóa những sản phẩm không liên kết sẽ có mối quan hệ nghịch biến với lợi nhuận bất thường trong những năm sau của doanh nghiệp (Jensen và Ruback, 1983). Nghiên cứu của Jensen (1986) về dòng tiền tự do dự đoán rằng nhà quản lý của những doanh nghiệp có dư tiền mặt thì thường lựa chọn đầu tư sang ngành khác để kéo giảm lợi nhuận xuống hơn là chi trả lãi cho cổ đông qua hình thức chi trả cổ tức. Bởi vì nếu chi trả cổ tức thì sẽ làm giảm nguồn lực do nhà quản lý Trang 18 Luận văn tốt nghiệp Chương 2: Cơ sở lý thuyết kiểm soát hay nói cách khác là làm giảm đi quyền lực của nhà quản lý.
Do vậy, nhà quản lý doanh nghiệp thường thích lựa chọn hình thức đa dạng hóa, đặc biệt là đầu tư vào những ngành không có liên kết với ngành chính mà doanh nghiệp đang hoạt động. Tuy nhiên, Jensen (1986) cho rằng nhà quản lý doanh nghiệp sẽ không lựa chọn những dự án xấu có độ rủi ro cao bởi vì nó sẽ tác động tiêu cực đến danh tiếng cũng như sự nghiệp của họ. Do vậy, dù đầu tư sang ngành không liên kết nhưng nhà quản lý vẫn nỗ lực làm tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Lang và Stulz (1994) chứng minh rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa đa dạng hóa sản phẩm và giá trị của doanh nghiệp đo lường qua biến Tobin’Q.
Nghiên cứu thực hiện dựa trên số lượng lớn các doanh nghiệp trong giai đoạn 1978 - 1990 bằng cách so sánh giá trị Q trung bình giữa các doanh nghiệp đa dạng hóa với các doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng Tobin’Q của doanh nghiệp đơn ngành cao hơn gần 40% so với mẫu trung bình. Kết quả tương tự cũng xảy ra với nghiên cứu thực nghiệm của Berger và Ofek (1995). Nghiên cứu sử dụng giá trị thị trường của những doanh nghiệp đa dạng hóa để đo lường mức độ tác động của đa dạng hóa sản phẩm lên toàn bộ giá trị của doanh nghiệp.
Berger và Ofek (1995) kết luận đa dạng hóa sản phẩm làm giảm giá trị của doanh nghiệp từ 13% đến 15% so với giá trị thị trường của các doanh nghiệp kinh doanh tập trung trong cùng một ngành. Nghiên cứu giải thích nguyên nhân của sự thua lỗ trong việc thực hiện đa dạng hóa sản phẩm là do lợi nhuận mà doanh nghiệp nhận được từ tiết kiệm thuế không đủ bù đắp cho lỗ phát sinh từ sự đầu tư quá mức vào những ngành có cơ hội tăng trưởng thấp và sự trợ cấp chéo giữa các ngành. Trang 19 Luận văn tốt nghiệp Chương 2: Cơ sở lý thuyết Đa dạng hóa sản phẩm liên kết (Related Diversification) Đa dạng hóa sản phẩm liên kết là tham gia vào một ngành sản xuất khác có nhiều nét tương đồng với ngành sản xuất hiện tại của doanh nghiệp. Nhà quản lý thường lựa chọn theo đuổi đa dạng hóa liên kết hơn là vay nợ để đầu tư cho những dự án mới của doanh nghiệp.
Đa dạng hóa sản phẩm liên kết đòi hỏi sự phối hợp linh hoạt, đồng bộ trong hoạt động giữa các ngành từ việc chuyển giao kỹ năng, chia sẻ kỹ thuật sản xuất để làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp. Ưu điểm của đa dạng hóa sản phẩm liên kết là bắt buộc các nhà quản lý phải phối hợp tối ưu các hoạt động sản xuất qua đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí đầu tư nên các chủ nợ thường sẵn lòng cho vay nhiều hơn và ít khi xem xét kỹ hợp đồng vay nợ làm cản trở hoạt động của doanh nghiệp (Lim et al. Doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động kinh doanh và tối ưu hóa lợi nhuận bằng cách đa dạng hóa chéo thông qua những ngành nghề khác nhau. Những nghiên cứu trước cho rằng đa dạng hóa sản phẩm làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp bởi vì lợi ích liên quan tới quy mô và tính kinh tế theo phạm vi.
Weston (1970) kết luận doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm liên kết với quy mô lớn sẽ phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn tại thị trường vốn trong nước hơn là tại thị trường vốn quốc tế. Rajan, Servaes và Zingales (2000) đánh giá tác động của đa dạng hóa sản phẩm dựa trên sự phân bổ nguồn lực giữa các ngành trong doanh nghiệp. Nghiên cứu kết luận vốn sẽ được chuyển từ ngành có cơ hội tăng trưởng thấp sang những ngành có cơ hội tăng trưởng tốt hơn. Ngoài ra, mức độ đa dạng hóa sản phẩm càng tăng sẽ có tác động tiêu cực đến sự chuyển giao này, dẫn đến sự đầu tư không hiệu quả.
Sự phân bổ vốn đầu tư không hiệu quả sẽ phá hủy giá trị của các dự án thông qua sự đầu tư quá mức. Trang 20 Luận văn tốt nghiệp Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nghiên cứu của Bohl và Pal (2006) chứng minh đa dạng hóa sản phẩm làm gia tăng 30% giá trị của doanh nghiệp. Dựa trên cỡ mẫu là tất cả các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Luân Đôn trong giai đoạn 1998 - 2003 (bao gồm cả doanh nghiệp đa dạng hóa và doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành). Trong lúc các nghiên cứu tại Mỹ giải thích đa dạng hóa sản phẩm làm giảm giá trị của doanh nghiệp hơn so với những doanh nghiệp đơn ngành thông qua những đặc điểm riêng biệt của doanh nghiệp, thì kết quả nghiên cứu của (Bohl và Pal, 2006, p22) cho thấy sự ảnh hưởng quan trọng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến các doanh nghiệp tại Anh.
Theo đó, các điều kiện kinh tế vĩ mô có tác động tích cực đến quyết định sẽ hoạt động như là một doanh nghiệp đa dạng hóa của nhà quản lý. Các chỉ số đo lường mức độ đa dạng hóa sản phẩm của doanh nghiệp Chỉ số Herfindahl - Hirschman (HHI) Chỉ số Herfindahl - Hirschman (HHI) được lấy theo tên của hai nhà kinh tế khởi xướng là Orris C. Herfindahl và Albert O. Hirschman, được sử dụng để đo lường mức độ tập trung trong cấu trúc đầu tư đa dạng hóa theo ngành của một doanh nghiệp theo đề xuất của Kahloul và Hallara (2010); Singhal và Zhu (2013).
Chỉ số này được đo lường bằng tổng bình phương của doanh thu trong ngành mà doanh nghiệp đa dạng hóa trên tổng doanh thu của doanh nghiệp. 𝒏 𝐓𝐢 𝐇𝐇𝐈 = ∑ ( ) ^𝟐 𝐓 𝒊=𝟏 Trang 21 Luận văn tốt nghiệp Chương 2: Cơ sở lý thuyết Trong đó: n: Số lượng ngành mà doanh nghiệp lựa chọn đầu tư; Ti: Doanh thu của ngành i; T: Tổng doanh thu của doanh nghiệp. Theo Cao Xuân Dung và cộng sự (2013), HHI còn có thể được tính bằng số tuyệt đối, tức lấy thị phần nhân với 100. Như thế kết quả cuối cùng sẽ là một số tuyệt đối.
Con số này càng lớn thì mức độ tập trung càng cao, con số tuyệt đối lớn nhất là 10000 tức = 1002 (chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành). Thông thường, HHI được chia làm 3 vùng: HHI < 1.000: Không tập trung (mức độ đa dạng hóa cao).800]: Tập trung trung bình (mức độ đa dạng hóa vừa phải).800: Tập trung cao (mức độ đa dạng hóa thấp). Chỉ số Entropy (E) Chỉ số Entropy là thước đo về mức độ đa dạng hóa sản phẩm của doanh nghiệp, được khởi xướng theo đề xuất của Palepu (1985).