Đặt vấn đề: Tâm lý (hành vi) bầy đàn là một hiện tƣợng phổ biến trong thị trƣờng tài chính nói chung – thị trƣờng chứng khoán nói riêng, bất kể thị trƣờng phát triển hay đang phát triển. Hành vi bầy đàn nói chung đã góp phần làm giảm tính hiệu quả của thị trƣờng, và trong nhiều trƣờng hợp dẫn đến những phản ứng quá mức, làm mất sự ổn định của thị trƣờng. - Sự cần thiết nghiên cứu: Thị trƣờng chứng khóan Việt Nam còn non trẻ nên tồn tại những hạn chế về: kiến thức của nhà đầu tƣ, minh bạch thông tin, chất lƣợng thông tin, quy mô thị trƣờng nhỏ, bị thao túng giá,. Những bất cập trên, khi một nhà đầu tƣ không tin vào chất lƣợng thông tin và tính minh bạch thông tin , khả năng phân tích bị hạn chế thì thƣờng bắt chƣớc hành động của những nhà đầu tƣ khác, làm giá chứng khoán không phản ánh đúng giá trị thực của nó, gây ra tình trạng bất ổn trong giá, khiến xảy ra tình trạng bong bóng, đổ vỡ trên thị trƣờng.
Tâm lý đám đông (tâm lý bầy đàn) xuất hiện ở hầu hết các thị trƣờng mới nổi, thậm chí ngay cả ở các thị trƣờng phát triển vẫn có những giai đoạn tồn tại tâm lý đám đông. Lịch sử kinh tế thế giới đã không chứng kiến nhiều vụ nổ bong bóng và khoảng hoảng nhƣ khủng hoảng Hoa tulip – Hà Lan (1634-1637), bong bóng South Sea - Anh ( 1711-1720), khủng hoảng bất động sản Florida - Mỹ (1920-1922), đại suy thoái thế giới 1929, khủng hoảng 1987, khủng hoảng Châu Á 1997, khủng hoảng dotcom… Chính vì vậy, việc nghiên cứu tâm lý bầy đàn ở thị trƣờng chứng khoán Việt Nam là vô cùng cần thiết. 2 b) Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu: - Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu sẽ sử dụng độ phân tán của tỷ suất sinh lợi để kiểm định hành vi bầy đàn trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam từ tháng 01/2005 đến tháng 4/2014, từ đó đề xuất một số giải pháp hạn chế hành vi này. Để làm rõ hơn cho mục tiêu nghiên cứu bài nghiên cứu sẽ tìm ra đáp án cho 3 câu hỏi nghiên cứu: Câu hỏi thứ nhất: “Có tồn tại tâm lý bầy đàn trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong toàn giai đoạn từ tháng 01/2005 – 4/2014, giai đoạn trƣớc khủng hoảng, giai đoạn sau khủng hoảng đối với toàn bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp phi tài chính theo mô hình CSSD không?” Câu hỏi thứ hai: “Có tồn tại tâm lý bầy đàn trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong toàn giai đoạn từ tháng 01/2005 – 4/2014, giai đoạn trƣớc khủng hoảng, giai đoạn sau khủng hoảng đối với toàn bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp phi tài chính theo mô hình CSAD không?” Câu hỏi thứ ba: “Có tồn tại tâm lý bầy đàn trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong toàn giai đoạn từ tháng 01/2005 – 4/2014, giai đoạn trƣớc khủng hoảng, giai đoạn sau khủng hoảng đối với toàn bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp phi tài chính khi thị trƣờng tăng điểm, giảm điểm không?” - Phạm vi nghiên cứu Luận án phân tích và kiểm định trên cơ sở dữ liệu khối lƣợng cổ phiếu lƣu hành, giá đóng cửa theo ngày của các cổ phiếu đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng 3 khoán Việt Nam (bao gồm Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) trong khoảng thời gian từ tháng 01/2005 đến tháng 4/2014.
4 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Tâm lý bầy đàn: Tâm lý bầy đàn (hay tâm lý đám đông) là một sự tồn tại khách quan trong bất cứ một thị trƣờng nào, không riêng gì thị trƣờng tài chính. Các bằng chứng xã hội mà các nhà tâm lý học đƣa ra sau các cuộc khảo sát hoàn toàn chứng minh đƣợc điều đó. Thực hiện một thí nghiệm nhƣ sau: Cho một ngƣời đứng ở một góc phố và nhìn lên bầu trời trống không trong 60 giây. Một số ngƣời đi đƣờng đã dừng lại để xem ngƣời kia nhìn gì nhƣng rồi đa số cũng bƣớc qua.
Lần tiếp theo, các nhà tâm lý học cho năm ngƣời làm nhƣ vậy ở góc phố đó. Lần này, số ngƣời dừng lại để quan sát đông gấp 4 lần. Khi cho 15 ngƣời đứng ở góc phố đó, có tới 45% số ngƣời qua đƣờng dừng lại và khi tăng số ngƣời đứng ở góc phố thêm một lần nữa, có tới hơn 80% ngƣời đi đƣờng phải ngẩng đầu quan sát theo. Vì sao lại nhƣ vậy? Ngƣời ta cho rằng, nếu có nhiều ngƣời cùng nhìn lên bầu trời thì chắc chắn rằng trên bầu trời phải có cái gì đó.
Đó là lý do vì sao càng có đông ngƣời, đám đông càng dễ bị ảnh hƣởng: thêm một ngƣời là thêm một bằng chứng cho thấy có điều gì đó quan trọng đang xảy ra. Họ tin tƣởng rằng, nếu có rất nhiều ngƣời cùng thực hiện một việc gì đó thì việc đó nhất định đúng. Bằng chứng này dƣờng nhƣ cho thấy, nếu không biết điều gì đang diễn ra thì tốt hơn hết là nên bắt chƣớc những gì ngƣời khác đang làm. Hiện tƣợng này đƣợc gọi là hiện tƣợng bầy đàn (hay tâm lý bầy đàn, hành vi bầy đàn).
Hành vi bầy đàn là thuật ngữ dùng để chỉ sự điều chỉnh tƣơng thích với một phƣơng thức thực hiện và đƣợc thể hiện nhƣ là “một sự tƣơng đồng trong hành vi theo sau các quan sát tƣơng tác” về hành động và kết quả phát sinh từ những hành động này giữa các cá nhân (Hirshleifer và Teoh, 2003). 5 Trong thị trƣờng chứng khoán, hành vi bầy đàn bao hàm việc các nhà đầu tƣ có xu hƣớng bỏ qua các thông tin riêng mà thiên về các kết quả quan sát (Bikhchandani và Sharma, 2001) không tƣơng thích với các yếu tố cơ bản, nền tảng của thị trƣờng (Hwang và Salmon, 2004). Đó là hành vi mà các cá nhân thiết lập dựa trên việc quan sát hành động của những ngƣời khác, hay nói cách khác đó là hành động bắt chƣớc nhau. “Hành vi bầy đàn – mọi ngƣời hành động theo những gì mà những ngƣời khác đang làm, thậm chí ngay cả khi thông tin riêng của họ cho thấy nên hành động một cách khác đi”.
(Banerjee (1992)) Tâm lý bầy đàn thể hiện ở cả nhà đầu tƣ nhỏ lẻ và cả các nhà đầu tƣ tổ chức. Đối với nhà đầu tƣ nhỏ lẻ, vì những giới hạn trong việc sở hữu thông tin cũng nhƣ những trƣờng hợp xem xét nhƣ đƣợc đề cập ở trên, những ngƣời này dễ dàng bị cuốn vào các trò chơi tạo ra xu thế (làm giá) của các tổ chức. Đồng thời, những tin đồn, các thông tin ngoài luồng với chất lƣợng thấp đôi khi cũng đƣợc các nhà đầu tƣ nhỏ lẻ “tận dụng một cách triệt để và kết cục là tạo ra một đám đông hành động giống nhau theo một cách bất hợp lý. Còn đối với các nhà đầu tƣ tổ chức, tâm lý bầy đàn đƣợc tạo ra từ những ngƣời quản lý, ban điều hành các tổ chức này.
Những ngƣời quản lý các tổ chức, các định chế tham gia thị trƣờng không phải với mục tiêu đƣa thị trƣờng về trạng thái hợp lý, hiệu quả thông qua kinh doanh chênh lệch giá. Mà những ngƣời này tham gia thị trƣờng cũng chỉ vì mục đích kiếm tiền và bảo vệ cho sự an toàn trong nghề nghiệp của chính họ. Vì thành quả hoạt động của họ bị đánh giá (Sharfstein và Stein, 1990) trên cơ sở so sánh với thành quả hoạt động của những ngƣời có vị trí tƣơng tự và vì trình độ cũng nhƣ uy tín nghề nghiệp của họ là không đồng đều, cho nên không khó để thấy rằng những nhà quản lý với trình độ/uy tín kém hơn có xu hƣớng bắt chƣớc những hành động của những ngƣời 6 có trình độ/uy tín cao hơn, vì điều này sẽ cải thiện hình ảnh nghề nghiệp của họ (Scharfstein và Stein, 1990; Trueman, 1994). Tuy nhiên, đến lƣợt những chuyên gia đƣợc cho là có trình độ/ uy tín cao cũng có thể sẽ chọn cách hành động theo đám đông, mặc dù họ biết rằng đó không phải là hành động, quyết định tối ƣu, nếu nhƣ họ nhận thấy rằng rủi ro từ sự thất bại tiềm tàng là lớn hơn so với những ích lợi có thể đạt đƣợc nếu thực hiện hành động riêng lẻ (Graham, 1999).
Về phân loại tâm lý bầy đàn, có nhiều dạng tâm lý bầy đàn khác nhau. Nhƣ phân loại trong nghiên cứu của Bikhchandani & Sharma (2000) thì tâm lý bầy đàn chia làm 3 loại: tâm lý bầy đàn dựa theo thông tin (informationmbased herding), tâm lý bầy đàn dựa theo danh tiếng (reputationmbased) và tâm lý bầy đàn dựa theo thù lao (compensationmbased).1 Tâm lý bầy đàn theo thông tin Nhà đầu tƣ có thể theo dõi hành động của nhà đầu tƣ khác nhƣng không thể biết rằng họ có nắm giữ thông tin bí mật gì không. Ngay cả khi những cá nhân có trao đổi với nhau thì vẫn có những hoài nghi, và họ giám sát hành động thay vì chỉ bằng lời nói. Bằng cách giám sát, họ sẽ suy tính và đƣa ra quyết định riêng của mình.
Ví dụ: Angela có thông tin, cô sẽ quyết định thông tin đó tốt hay xấu (Good (G)/Bad(B), Bob quan sát hành động của Angela và sẽ suy nghĩ. Nếu Bob quyết định giống Angela thì chuối hành đồng giống nhau bắt đầu. Claire cũng xem xét tƣơng tự hành động của Bob. Việc áp dụng phƣơng tính xác suất hay trực quan cũng thấy Claire luôn hành động theo nếu Angela và Bob cùng cho rằng tốt (G) (hay xấu (B).
Kết luận rút ra là một nhà đầu tƣ cá nhân sẽ vào chuỗi hành động bầy đàn nếu số những ngƣời trƣớc đó đều lựa chọn sẽ đầu tƣ lớn hơn số ngƣời không đầu tƣ từ 2 trở lên. 7 Nếu giá cổ phiếu trên thị trƣờng cổ phiếu phản ánh mọi thông tin sẵn có hay nói cách khác thị trƣờng hiệu quả về thông tin thì hành vi bầy đàn theo thông tin sẽ không xảy ra.2 Tâm lý bầy đàn theo danh tiếng Một giả thuyết khác là hành vi bầy đàn theo danh tiếng của những nhà quản lý quỹ và nhân viên phân tích tài chính. Họ đƣợc thuê mƣớn để đƣa ra những báo cáo, nhận định, dự đoán thị trƣờng, hay giá cả. Nếu dự đoán của họ khác xa với những dự báo khác từ những nhà phân tích hay quản lý quỹ mà dự báo của họ lại không chính xác thì danh tiếng của họ sẽ tổn hại.
Họ sẽ không đƣợc thăng tiến hay thậm chí bị sa thải. Do vậy, những nhà quản lý quỹ hay các nhà phân tích (đặc biệt là những ngƣời ít kinh nghiệm) sẽ bắt chƣớc theo những dự đoán của những ngƣời khác.