chương 1, tác giả đã giới thiệu được tổng quan đề tài nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết cũng như điểm mới của đề tài. Các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra để nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của đề tài. Phạm vi nghiên cứu được lựa chọn là 551 doanh nghiệp được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2010- 2021 bằng phương pháp định lượng được tác giả lựa chọn là phương pháp sử dụng chính trong đề tài này. Áp dụng các kiểm định mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và sử dụng ước lượng GLS để khắc phục hiện tượng sai số nhiễu tự tương quan và phương sai thay đổi trong mô hình được chọn nhằm đánh giá tác động của các biến.
Từ đó, tác giả mong muốn cung cấp thông tin một các tổng quan nhất về các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu giúp các NĐT, doanh nghiệp niêm yết cũng như chính phủ đưa những quyết định phù hợp, nhằm đảm bảo sự ổn định của TTCK. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương 2 sẽ trình bày lý thuyết cơ bản về TTCK, cổ phiếu và các nhân tố tác động đến giá cổ phiếu, đồng thời khảo lược các nghiên cứu trước đây cả trong và ngoài nước từ đó tìm ra điểm mới của đề tài nghiên cứu. Thị trường chứng khoán 2. Khái niệm về thị trường chứng khoán.
Chứng khoán là công cụ pháp lý ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT đối với tổ chức pháp hành. Chứng khoán có tính thanh khoản cao tức là khả năng hoàn chuyển đổi thành tiền một cách dễ dàng tuy nhiên đây cũng là tài sản có rủi ro cao, vì trên thực tế giá chứng khoán phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chất lượng hoạt động của tổ chức phát hành để đến tâm lý của các NĐT cũng như khả năng điều hành thị trường của các nhà quản lý. Tại điều 4 Luật chứng khoán 2019 định nghĩa, chứng khoán là tài sản bao gồm các loại sau đây: - Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; - Chứng quyền, chứng quyền có đảm bảo, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu quỹ; - Chứng khoán phái sinh; - Các loại chứng khoán khác do chính phủ quy định. Chứng khoán có tính lưu thông, tức là có khả năng trao đổi, mua bán, cho tặng, thừa kế hoặc đem bảo đảm cho các nghĩa vụ về tài sản.
Tuy nhiên, nó chỉ có thể lưu thông trên một thị trường đặc biệt là thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán là bộ phận quan trọng của thị trường vốn, là nơi diễn ra các giao dịch mua bán của các loại chứng khoán. TTCK cho phép các công ty, tổ chức và các nhân mua bán các chứng khoán từ đó thu hút các nguồn vốn và tạo ra lợi nhuận. Hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ lẻ trong xã hội tập trung thành các nguồn vốn lớn và dài hạn tài trợ cho doanh nghiệp để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay các dự án đầu tư.
7 TTCK cũng được sử dụng để đánh giá giá trị của công ty và tăng cường tính minh bạch của công ty. Các NĐT có thể đánh giá các công ty bằng cách xem xét giá cổ phiếu mà chúng niêm yết trên TTCK. TTCK được xem là đặc trưng cơ bản biểu tượng cho nền kinh tế hiện đại và là một trong những phần quan trọng nhất của nền kinh tế và tài chính, nó ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và cuộc sống của mọi người. TTCK là một thị trường có tính cạnh tranh cao và thường xuyên có sự biến động về giá, do đó các NĐT khi tham gia vào thị trường này cần nắm vững kiến thức và kĩ năng để đưa ra những quyết định đầu tư chính xác và hiệu quả.
Vai trò của thị trường chứng khoán TTCK ngày càng thể hiện vai trò của mình trong sự phát triển của nền kinh tế mỗi quốc gia. Mọi biến động trên TTCK đều có thể tác động đến nền kinh tế và các NĐT. Đây chính là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế và cũng là kênh đầu tư tiềm năng của công chúng. Đối với nhà đầu tư TTCK mang đến cho NĐT những công cụ đầu tư mới, đa dạng, phong phú phù hợp với từng đối tượng có tâm lý và chiến lược riêng.
Với điều kiện tham gia vào TTCK một cách dễ dàng, giúp các NĐT nhỏ lẻ có thể dễ dàng tham gia mặc dù nguồn vốn eo hẹp hay lớn mạnh để có thể tìm kiếm được lợi nhuận mong muốn cao hơn các kênh đầu tư khác. TTCK hệ thống các cổ phiếu ở các ngành kinh tế khác nhau, NĐT có thể tự mình lựa chọn hoặc thông qua các nhà tư vấn tài chính chuyên nghiệp từ đó lựa chọn những hình thức đầu tư phù hợp nhất, nguồn vốn nhà rỗi trong xã hội sẽ được thu hút vào đầu tư. Vốn đầu tư sinh lời càng kích thích ý thức tiết kiệm và đầu tư trong dân chúng. Nếu không có TTCK thì nguồn vốn tiết kiệm trong dẫn chúng vẫn có thể nằm dưới dạng cất trữ, không sinh lời cho bản thân người tiết kiệm và không đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế.
Như vậy, TTCK là nơi cung cấp các cơ hội đầu tư có lựa chọn cho công chúng, từ đó nâng cao tiết kiệm quốc gia, tạo điều kiện về vốn cho sự phát triển kinh tế. 8 Đối với các doanh nghiệp TTCK giúp các doanh nghiệp đa dạng hóa các hình thức huy động vốn bằng cổ phiếu hoặc trái phiếu, từ đó có thể giảm bớt các khoản vay ngân hàng với lãi suất cao. Doanh nghiệp có chứng khoán được niêm yết trên TTCK mang lại sự uy tín đối với công chúng, với thông tin về kết quả kinh doanh được công khai minh bạch và cập nhật thường xuyên từ đó giúp doanh nghiệp huy động được các nguồn vốn giá rẻ, sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả hơn. Việc tham gia vào TTCK giúp doanh nghiệp thu hút được nguồn vốn nước ngoài, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế và mở rộng cơ hội kinh doanh trong nước.
TTCK là nơi đánh giá giá trị của doanh nghiệp một cách tổng hợp và chính xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường. Sự hình thành thị giá chứng khoán của một doanh nghiệp đã bao hàm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó ở hiện tại và dự đoán trong tương lai. Nói cách khác, giá cổ phiếu của một doanh nghiệp cao hay thấp thể hiện ở khả năng mang lại cổ tức cho các cổ đông của doanh nghiệp đó. Đối với nền kinh tế TTCK tạo ra các công cụ có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế.
Thêm vào đó, TTCK giúp tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân. Nhờ có TTCK, Chính phủ có thể huy động các nguồn lực tài chính mà không bị áp lực về lạm phát, đặc biệt khi nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước còn hạn chế. TTCK được coi như “phong vũ biểu” của nền kinh tế, TTCK có thể phản ánh triển vọng nền kinh tế cho giai đoạn sắp tới. Theo giới phân tích thì TTCK sẽ đi trước sự thay đổi của nền kinh tế 6 tháng.
Cụ thể là, giá chứng khoán tăng sẽ cho thấy đầu tư đang mở rộng một nền kinh tế phát triển, và ngược lại, giá chứng khoán giảm cho thấy các dấu hiệu suy thoái, dự báo không mấy tốt đẹp về triển vọng của nền kinh tế trong tương lai. TTCK là công cụ hữu hiệu giúp Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để tạo ra nguồn thu bù 9 đắp thiếu hụt ngân sách và hạn chế lạm phát. Cùng với những chính sách và biện pháp tác động vào TTCK, chính phủ có thể định hướng đầu tư, đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế. TTCK còn hỗ trợ cho công cuộc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và cùng với hệ thống tín dụng của ngân hàng tạo ra một cơ cấu thị trường vốn Việt Nam cân đối hơn, hiệu quả hơn, hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán Việt Nam TTCK Việt Nam chính thức được khai sinh khi Nghị định số 48/CP của Chính phủ được ký vào ngày 11-7-1998. Ngày 28-7-2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã chính thức đi vào hoạt động, thực hiện phiên giao dịch đầu tiên với 2 mã cổ phiếu REE và SAM. Từ năm 2001- 2005 thị trường không có nhiều biến đổi, đây là thời điểm các NĐT và các doanh nghiệp làm quen với thị trường. Lúc này vốn hóa thị trường chỉ chiếm 1% GDP.
Tuy nhiên vào năm 2005, trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam được thành lập. Cùng với đó là sự ra đời của Trung tâm Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (tiền thân của Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội – HSX) vào ngày 8/3/2005. TTCK bắt đầu được mở rộng với 2 sở giao dịch, giúp quy mô và chất lượng của TTCK ngày càng phát triển nhanh chóng. Trong năm 2006, 74 doanh nghiệp mới đã được niêm yết trên sàn HOSE, điều này đã giúp giá trị vốn hóa thị trường tăng từ 7.400 tỷ đồng lên 148.
Chỉ số VN-Index cũng lên mức 752 điểm, tăng 144% chỉ sau 1 năm. Ngày 12/3/2007, chỉ số VN-Index đạt đỉnh lịch sử khi kết phiên ở 1. Con số này cao hơn khoảng 3,9 lần so với thời điểm đầu năm 2006. Vào năm 2006, vốn hóa TTCK chỉ chiếm khoảng 22% GDP.
Thế nhưng chỉ sau 1 năm, vào năm 2007, con số này là 40%. Làn sóng IPO của doanh nghiệp nhà nước là tác động chủ yếu khiến VN-Index đạt đỉnh vào năm này. Sau năm 2007, 2008 là thời điểm đen tối nhất trong lịch sử chứng khoán Việt Nam. Bị ảnh hưởng khủng hoảng kinh 10 tế toàn cầu, VN-Index khép lại năm 2008 với mức giảm 66%, rơi xuống 316 điểm.
Giá trị vốn hóa trên HOSE cũng đồng thời “bốc hơi” 195. Giai đoạn 2010 – 2020, đã có nhiều bước tiến vượt bậc tuy nhiên cũng gặp nhiều khó khăn trong giai đoạn Covid-19. Quy mô hụy động vốn trong giai đoạn này đạt gần 2.9 triệu tỷ đồng tăng gấp 10 lần so với giai đoạn 2000- 2010, đóng góp bình quân 19.