Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN 1.1 Khái niệm thị trường quyền chọn 1.1 Khái niệm Quyền chọn (quyền chọn mua, quyền chọn bán) là quyền được ghi trong hợp đồng cho phép người mua lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứng khoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xác định trước (Luật chứng khoán số 70/2006/QH11) Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn. Người bán quyền chọn sẵn sàng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo các điều khoản của hợp đồng nếu người mua muốn thế. Một quyền chọn để mua tài sản gọi là quyền chọn mua (call). Một quyền chọn để bán tài sản gọi là quyền chọn bán (put).
Người mua quyền chọn thì có quyền (right) trong khi người bán quyền chọn phải có nghĩa vụ (obligation) thực hiện hợp đồng. Một quyền chọn kiểu Mỹ có thể thực hiện vào bất kỳ ngày nào cho đến ngày đáo hạn. Quyền chọn kiểu Châu Âu chỉ có thể thực hiện vào ngày đáo hạn.2 Điều kiện niêm yết Các sàn giao dịch quyền chọn qui định các tài sản mà giao dịch quyền chọn được phép. Đối với quyền chọn cổ phiếu, điều kiện niêm yết của sàn giao dịch qui định những cổ phiếu có đủ điều kiện có thể giao dịch quyền chọn.
Trước đây, các điều kiện này hạn chế việc niêm yết quyền chọn trong giới hạn cổ phiếu của các công ty lớn, nhưng các qui định này đã được nới lỏng và nhiều quyền chọn của các công ty nhỏ đã có giao dịch. Sàn giao dịch 123doc 2 cũng qui định những điều kiện tối thiểu mà cổ phiếu phải đạt được để duy trì việc niêm yết quyền chọn.3 Qui mô hợp đồng Một hợp đồng quyền chọn giao dịch trên sàn tiêu chuẩn gồm 100 quyền chọn đơn lẻ. Vì vậy, nếu nhà đầu tư mua một hợp đồng, hợp đồng đó thật ra đại diện cho các quyền chọn mua 100 cổ phiếu. Trường hợp ngọai lệ của qui mô hợp đồng tiêu chuẩn diễn ra khi hoặc cổ phiếu bị chia tách hoặc công ty tuyên bố chi trả cổ tức bằng cổ phiếu.
Trong trường hợp đó, số cổ phiếu đại diện bởi một hợp đồng tiêu chuẩn được điều chỉnh để phản ánh những thay đổi trong mức vốn hóa của công ty.4 Giá thực hiện Trên sàn giao dịch quyền chọn, giá thực hiện được chuẩn hóa. Sàn giao dịch qui định mức giá thực hiện có thể ký kết hợp đồng quyền chọn. Tuy nhiên các giao dịch OTC có thể nhận bất cứ mức giá thực hiện nào mà hai bên tham gia thỏa thuận. Mục tiêu của sàn giao dịch trong việc thiết lập giá thực hiện là cung cấp các quyền chọn thu hút khối lượng giao dịch.
Hầu hết các giao dịch quyền chọn đều tập trung vào các quyền chọn mà giá cổ phiếu gần với giá thực hiện. Vì vậy, các nhân viên sàn giao dịch có xu hướng niêm yết các quyền chọn có giá thực hiện xoay quanh nhưng rất gần giá hiện tại của cổ phiếu. Trong việc thiết lập giá thực hiện của quyền chọn cổ phiếu, sàn giao dịch thường tuân theo qui luật là các mức giá thực hiện có khoản chênh lệch $2,50 nếu giá cổ phiếu thấp hơn $25, khoảng $5 nếu giá cổ phiếu từ $25 đến $200 và trong khoản $10 nếu giá cổ phiếu trên $200.5 Ngày đáo hạn Ngày đáo hạn của quyền chọn trên sàn OTC được thiết kế phù hợp với nhu cầu của người mua và người bán. Trên sàn giao dịch quyền chọn, mỗi cổ 123doc 3 phiếu được phân lọai vào các kỳ đáo hạn riêng.
Các chu kỳ đáo hạn là (1) Tháng 1, 4, 7 và 10; (2) Tháng 2,5,8,11; và (3) Tháng 3, 6, 9, và 12. Các chu kỳ này được gọi là chu kỳ tháng 1, 2 và 3. Các ngày đáo hạn có hiệu lực là tháng hiện tại, tháng tiếp theo và 2 tháng tiếp theo trong chu kỳ tháng 1, 2 hoặc 3 mà chứng khoán được phân vào.6 Hạn mức vị thế và hạn mức thực hiện Ở Mỹ, Ủy Ban chứng khoán (SEC) buộc các sàn giao dịch quyền chọn phải áp đặt hạn mức vị thế, hạn mức vị thế là số lượng quyền chọn tối đa mà một nhà đầu tư có thể nắm giữ về một phía vị thế của thị trường. Một số nhà tạo lập thị trường có những ngoại lệ nhất định đối với những giới hạn vị thế này.
Hạn mức thực hiện tương tự như hạn mức vị thế. Một hạn mức thực hiện là số quyền chọn tối đa có thể thực hiện trong vòng 5 ngày làm việc liên tục bất kỳ bởi một nhà đầu tư riêng lẻ hay một nhóm các nhà đầu tư cùng hành động với nhau. Các số liệu về hạn mức thực hiện cũng giống hạn mức vị thế. Mục tiêu của hạn mức vị thế và hạn mức thực hiện là nhằm ngăn cản từng cá nhân hoặc nhóm người tác động đáng kể đến thị trường nhằm thao túng thị trường.7 Thành viên tham gia giao dịch trên thị trường quyền chọn 1.1 Nhà tạo lập thị trường Một cá nhân hoặc là pháp nhân, người đã mua một chỗ ngồi ở sàn giao dịch có thể nộp đơn để trở thành nhà tạo lập thị trường.
Nhà tạo lập thị trường chịu trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư đối với quyền chọn. Một khi có nhà đầu tư nào muốn bán (hoặc mua) một quyền chọn và không có nhà đầu tư nào muốn mua (hoặc bán) quyền chọn đó thì nhà tạo lập thị trường sẽ phải thực hiện vụ giao dịch đó. 123doc 4 Để tồn tại nhà tạo lập thị trường phải tạo ra lợi nhuận bằng cách mua vào một mức giá và bán ra ở một mức giá cao hơn. Một cách để thực hiện điều này là yết giá hỏi mua và yết giá chào bán.2 Môi giới sàn giao dịch Môi giới sàn giao dịch là một dạng nhà kinh doanh khác trên sàn giao dịch.
Môi giới sàn giao dịch thực hiện các giao dịch cho các thành viên của công chúng. Nếu một nhà đầu tư nào đó muốn mua hoặc bán quyền chọn, cá nhân người đó phải mở tài khoản tại các thành viên công chúng (công ty môi giới). Công ty này phải thuê một môi giới tại sàn để thực hiện giao dịch. Nhà môi giới trên sàn thực hiện các lệnh của những người không phải là thành viên của sàn giao dịch.
Họ nhận hoa hồng trên mỗi lệnh thực hiện được.3 Nhân viên giữ sổ lệnh (nhân viên môi giới) Họ là nhân viên của sàn giao dịch, nhận lệnh mua (hoặc bán của nhà đầu tư để nhập vào hệ thống. Ngòai ra, họ còn tư vấn cho nhà đầu tư mua (bán) quyền chọn ở mức giá tốt nhất theo giá yết giá của nhà tạo lập thị trường.1 Một giao dịch trên thị trường quyền chọn Người mua Người bán (1a) (6a) (7a) (1b) (6b) (7b) Môi giới (2a) Môi Sàn giao Môi (2b) Môi giới của người giới dịch quyền giới của người mua (5a) trên sàn chọn trên sàn (5b) bán (8a) (4) (8b) Cty thanh Cty thanh tóan của Trung tâm tóan của người môi (9a) thanh tóan (9b) người môi giới của giới của người mua người bán 123doc 5 (1a) (1b) Người mua và người bán chỉ thị cho người môi giới riêng của mình tiến hành một giao dịch quyền chọn. (2a) (2b) Người môi giới của người mua và người bán yêu cầu nhà môi giới trên sàn của công ty mình thực hiện giao dịch (3) các nhà môi giới trên sàn gặp nhau và thống nhất giá cả (4) Thông tin về giao dịch được báo cho trung tâm thanh tóan bù trừ (5a) (5b) Nhà môi giới trên sàn thông báo cho môi giới của người mua và người bán (6a) (6b) Người môi giới của người mua và người bán thông báo về giá cho người mua và người bán (7a) (7b) Người mua (người bán) ký gởi phí quyền chọn cho người môi giới (8a) (8b) Người môi giới của người mua và người bán ký gởi phí quyền chọn và tiền ký quỹ cho Trung tấm thanh toán của mình (9a) (9b) Công ty thanh tóan của người môi giới của người mua và người bán ký gởi phí quyền chọn và tiền ký quỹ cho trung tâm thanh tóan bù trừ.8 Rủi ro khi tham gia thị trường quyền chọn Khi tham gia vào thị trường quyền chọn, các nhà đầu tư đều phải chấp nhận rủi ro bên cạnh lợi nhuận mà họ kiếm được. Tuy nhiên, mức độ chấp nhận rủi ro của mỗi người là khác nhau và hầu hết các nhà đầu tư đều có chung một đặc điểm là không thích rủi ro.
Các nhà đầu tư thường tránh các tình huống đầy rủi ro và chọn một tình huống có tỷ suất lợi nhuận tương đương nhưng ít rủi ro hơn. Theo mô hình định giá tài sản vốn CAPM, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng có liên quan đến hệ số rủi ro và được thể hiện qua công thức dưới đây: E(rs) = r + [E(rm) – r] βs 123doc 6 Trong đó: E(rs) là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng; r là lãi suất trái phiếu chính phủ; E(rm) là tỷ suất sinh lời kỳ vọng của danh mục thị trường; βs được gọi là beta của tài sản. Dưới đây là một số hình ảnh minh họa rủi ro trong chiến lược kinh doanh quyền chọn 1.1 Quyền chọn mua Hình 1.2 Rủi ro đối với quyền chọn mua Mua quyền chọn mua Bán quyền chọn mua ∆V ∆V ∆P ∆P Lợi nhuận vô hạng nhưng lỗ có giới hạn Lợi nhuận có giới hạn nhưng lỗ vô hạn 1.2 Quyền chọn bán Hình 1.3 Rủi ro đối với quyền chọn bán Mua quyền chọn bán Bán quyền chọn bán ∆V ∆V ∆P ∆P Lợi nhuận vô hạng nhưng lỗ thì có hạn Lợi nhuận có giới hạn nhưng lỗ vô hạn 123doc 7 Trong thực tế người ta thường sử dụng các kết hợp để nhằm giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận. chẳng hạn như kết hợp mua một cổ phiếu và bán một quyền chọn mua hoặc bán khống cổ phiếu và mua một quyền chọn mua,… Các chiến lược này sẽ được nghiên cứu cụ thể trong Chương 2 1.2 Những thuộc tính cơ bản của quyền chọn cổ phiếu 1.1 Giá trị của một quyền chọn Khi giao dịch quyền chọn nhà đầu tư phải quan tâm đến giá trị quyền chọn được tính như thế nào.
Giá trị quyền chọn được chia làm hai phần: Giá trị nội tại và giá trị thời gian 1.1 Giá trị nội tại Giá trị nội tại (intrinsic value) là sự chênh lệch giữa giá thị trường của chứng khoán cơ sở và giá thực hiện của quyền chọn tại bất kỳ thời gian cụ thể nào. Một quyền chọn mua có giá trị nội tại khi giá cổ phiếu cơ sở lớn hơn giá thực hiện của quyền chọn.