đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Phần 2 – Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Tác giả xây dựng phần này với mục đích xem xét (i) NĐT NN và hiệu quả phản ảnh thông tin trên giá cổ phiếu có liên hệ với nhau như thế nào?, sau đó, tác giả tổng quan các nghiên cứu gần đây nhất và (iii) tác giả xem xét trường hợp của Việt Nam, có những đặc điểm riêng có như thế nào. Từ đó có một sự định hướng rõ ràng hơn trong việc xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.
Phần 3 – Phương pháp nghiên cứu. Phần này cung cấp một cách chi tiết về giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu cho nghiên cứu cũng như cách xác định các biến số được sử dụng trong nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành thống kê mô tả cho các biến số trong mô hình hồi quy. Phần 4 – Kết quả nghiên cứu.
Tác giả trình bày các kết quả từ việc phân tích đơn biến, và phân tích kết quả hồi quy. Trong đó, kết quả hồi quy đến từ mô hình hồi quy cơ sở, mô hình hồi quy hàng năm, và hồi quy với mô hình hiệu ứng cố định theo nhóm doanh nghiệp (firm fixed effects). Phần 5 – Kết luận. Phần này tác giả tóm tắt kết quả nghiên cứu cũng như nêu lên những hạn chế của đề tài và những hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Nhà đầu tư NN và hiệu quả phản ảnh thông tin trên giá cổ phiếu Đầu tiên, trước khi đi vào xem xét mối quan hệ giữa sở hữu của NĐT nước ngoài và hiệu quả phản ánh thông tin trên giá cổ phiếu, tác giả muốn định nghĩa NĐT NN trên TTCK. Shen (2014) xem xét nhóm NĐT NN chính là những nhà đầu tư không cư trú trong quốc gia đó, bao gồm cả tổ chức và cá nhân. Theo Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành năm 2008, NĐT NN trên TTCK Việt Nam bao gồm: a) Cá nhân là người có quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam, bao gồm cả người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài; b) Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức này, bao gồm cả chi nhánh hoạt động tại Việt Nam; c) Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này; d) Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và các quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp NN.
Dựa trên các tài liệu vừa nêu và nghiên cứu của W. Shen (2014), trong nghiên cứu này, tác giả xem xét các NĐT NN là các tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam. Trong đó, hoạt động đầu tư của NĐT NN thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới các hình thức sau: a. Trực tiếp thực hiện đầu tư thông qua việc: i.
Mua, bán cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán niêm yết khác trên Sở Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hoặc đăng 123doc 8 ký giao dịch tại các công ty chứng khoán; ii. Mua, bán cổ phần và các loại chứng khoán chưa niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch tại các công ty chứng khoán; iii. Tham gia đấu giá mua chứng khoán, đấu giá mua cổ phần tại các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa; iv. Tham gia góp vốn thành lập quỹ đầu tư chứng khoán với tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; v.
Tham gia góp vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện đầu tư thông qua việc uỷ thác quản lý vốn đầu tư cho công ty quản lý quỹ trên cơ sở Hợp đồng quản lý đầu tư ký với công ty quản lý quỹ. Tiếp theo, tác giả muốn làm rõ hơn yếu tố thứ 2 trong mối quan hệ đang được nghiên cứu là tính hiệu quả của phản ánh thông tin trên giá cổ phiếu dựa trên 2 lý thuyết có nhiều sự tương đồng là lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis – EMH) và lý thuyết bước đi ngẫu nhiên (Random Walk Theory). Đầu tiên, Eugene Fama (1960s) đã phát triển khái niệm "thị trường hiệu quả".
Theo đó, tính hiệu quả của thị trường là khả năng và tốc độ mà các thông tin trên thị trường ảnh hưởng tới giá chứng khoán. Một thị trường được coi là hiệu quả khi nó đạt hiệu quả về mặt thông tin, hay nói các khác, giá của các loại tài sản được giao dịch như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, phản ánh được tất cả các thông tin đã biết trên thị trường. Cùng với đó, Maurice Kendall (1953) là người đầu tiên đưa lý thuyết bước đi ngẫu nhiên, Burton Malkiel (1973) đã cụ thể hóa lý thuyết này trong quyển sách "A Random Walk Down Wall Street". Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên cho thấy giá chứng khoán tuân theo bước đi ngẫu nhiên và đó là bước đi không thể tiên đoán trước được.
Khả năng tăng hay giảm của chứng khoán trong tương lai là tương đương nhau. Như vậy, từ hàm ý của 2 lý thuyết này, nếu giá cả 123doc 9 của cổ phiếu phản ánh một cách có hiệu quả với các thông tin, thì giá cả cổ phiếu phải tuân theo bước đi ngẫu nhiên và thị trường là hiệu quả. Dựa trên hàm ý này, và theo cách của Boehmer & Kelley (2009), W. Shen (2014), tác giả xây dựng 2 cách đo lường về tính hiệu quả trong việc phản ánh thông tin của giá cổ phiếu dựa trên tương quan chuỗi (serial correlations) của TSSL chứng khoán.
Cách đo lường thứ nhất dựa trên hệ số tự tương quan bậc 1 (first - order autocorrelation coefficients) của TSSL chứng khoán. Một cách trực quan về cách đo lường này là, nếu giá cổ phiếu tuân theo bước đi ngẫu nhiên, hay giá cổ phiếu phản ánh hiệu quả về mặt thông tin, TSSL của cổ phiếu không xuất hiện hiện tượng tự tương quan. Cách đo lường thứ 2 dựa trên tỷ số phương sai của TSSL chứng khoán tại các thời điểm khác nhau. Mô hình bước đi ngẫu nhiên, hay giá cổ phiếu phản ánh hiệu quả về mặt thông tin hàm ý rằng, phương sai của TSSL chứng khoán được bổ sung, hoặc cộng dồn theo thời gian (additive over time).
Do đó, tỷ số phương sai của TSSL đa giai đoạn (multi-period) trên phương sai của TSSL một giai đoạn (one-period) là bằng 1. Dựa trên các hàm ý này, tác giả sử dụng hiệu số giữa 1 và tỷ số phương sai của TSSL như là cách đo lường tính hiệu quả thông tin của cố phiếu. Phương pháp tính của cả 2 cách đo lường này sẽ được thảo luận một cách chi tiết hơn ở phần 3 của nghiên cứu. Cuối cùng, mối quan hệ giữa NĐT NN và hiệu quả phản ánh thông tin của giá cổ phiếu như thế nào? Các nghiên cứu của Bae cùng cộng sự (2012), W.
Shen (2014), đã chỉ ra rằng, các NĐT NN đã giúp cải thiện hiệu quả phản ánh thông tin của giá cổ phiếu trên các thị trường nội địa, hay làm cho thị trường trở nên hiệu quả hơn. Các nghiên cứu này dựa trên 2 quan điểm lập luận như sau: Thứ nhất, các NĐT NN đã giúp cải thiệu hiệu quả phản ánh thông tin của giá cổ phiếu một cách trực tiếp thông qua việc kết hợp các thông tin mà họ có được vào 123doc 10 các giao dịch mà họ thực hiện trên thị trường chứng khoán nội địa. Nghiên cứu của Bae cùng cộng sự (2012) ngụ ý rằng các NĐT NN giúp kết hợp, lồng ghép các thông tin toàn cầu vào giá cổ phiếu và cải thiện hiệu quả thị trường nội địa. Hơn nữa, các NĐT NN chủ yếu là các NĐT tổ chức, các định chế đầu tư, các quỹ đầu tư hoặc là các nhà kinh doanh chênh lệch giá rất tài ba, những người có thể loại bỏ các lỗi định giá, hay định giá sai lệch (mis-pricing), làm cho giá cổ phiếu bám sát hơn vào giá trị cơ bản của doanh nghiệp.
Trong một nghiên cứu gần đây, Boehmer & Kelley (2009) đã tìm thấy mối quan hệ giữa việc giao dịch nhiều hơn của các nhà đầu tư tổ chức (bao gồm cả tổ chức trong nước và ngoài nước) giúp cải thiện hiệu quả thông tin giá cổ phiếu trên TTCK Mỹ. Các nghiên cứu khác tại TTCK Mỹ cũng cho thấy các NĐT tổ chức rất tích cực khai thác việc định giá sai lệch (Campbell cùng các cộng sự 2009, Ke và Ramalingegowda, 2005). Giao dịch của NĐT tổ chức cũng giúp giảm thiểu TSSL bất thường (return anomalies) trên thị trường do các hiệu ứng giá cổ phiếu trược theo xu hướng sau khi DN công bố báo cáo lợi nhuận (post-earnings announcement drift) (Bartov và các công sự, 2000). Brockman và Yan (2009) chỉ ra rằng sở hữu theo lô lớn (block ownership) (hàm ý cho các NĐT tổ chức) có mối liên kết với tính hiệu quả hơn trong việc phản ánh thông tin của giá cổ phiếu tại thị trường Mỹ.
Thứ hai, các NĐT NN giúp cải thiện hiệu quả thông tin DN một cách gián tiếp thông qua việc nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp, đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. NĐT NN, đặc biệt là những NĐT đến từ các quốc gia có chính sách bảo vệ NĐT nghiêm ngặt có thể thúc đẩy các quá trình quản trị tại các doanh nghiệp mà họ đầu tư (Kho cùng các cộng sự, 2009; Aggarwal và các cộng sự, 2011). Việc tăng cường quản trị DN sẽ giúp hạn chế các cổ đông nội bộ, cổ đông lớn (giữ quyền kiểm soát) thực hiện giao dịch nội gián (insider trading), đồng thời khuyến khích các nhà đầu tư tài ba khác trên thị 123doc 11 trường tham gia vào việc phát hiện các thông tin và chênh lệch thông tin, kết quả là giá cổ phiếu sẽ trở nên hiệu quả hơn. Tóm lại, dựa trên hàm ý của lý thuyết thị trường hiệu quả và lý thuyết bước đi ngẫu nhiên, tác giả đã đo lường được tính hiệu quả trong việc phản ánh thông tin của giá cổ phiếu.