CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN PHI TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về đầu tư tài chính 1. Khái niệm đầu tư tài chính 1. Đầu tư tài chính là gì? Trong các công ty Phi tài chính, để tối đa hóa lợi nhuận và sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn vốn kinh doanh của mình ngoài việc bỏ phần lớn vốn kinh doanh đầu tư vào ngành nghề sản xuất kinh doanh chính các công ty còn tiến hành đầu tư vốn vào các lĩnh vực kinh doanh khác.
Các lĩnh vực kinh doanh “khác” này được gọi đó là hoạt động đầu tư tài chính. Toàn bộ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp được thể hiện trong hình 1.1 CÔNG TY PHI TÀI CHÍNH ĐẦU TƯ HOẠT ĐỘNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ SẢN XUẤT TÀI CHÍNH KINH DOANH CHÍNH ĐẦU TƯ ĐẦU TƯ NGẮN HẠN DÀI HẠN Hình 1.1: Các hoạt đầu tư trong công ty Phi tài chính - Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, đầu tư tài chính ở doanh nghiệp là hoạt động dùng tiền vốn để mua cổ phiếu, trái phiếu với mục đính hưởng lãi hoặc bỏ vốn vào các doanh nghiệp khác dưới hình thức góp vốn liên doanh, mua cổ phần, góp vốn với tư cách là một thành viên tham gia quản lý và điều hành công ty liên doanh, công ty cổ phần nhằm chia sẽ lợi ích và trách nhiệm với doanh nghiệp khác. Ý nghĩa của hoạt động đầu tư tài chính: Lợi nhuận tăng, Đầu Giá trị công ty tăng tư tài Hướng đến mục tiêu chính Rủi ro giảm Hình 1.2: Đầu tư tài chính làm tăng giá trị công ty và giảm thiểu rủi ro Hoạt động đầu tư tài chính có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp Phi tài chính, cụ thể: - Đầu tư tài chính sẽ đem lại khoản tăng trưởng vốn cho doanh nghiệp. Thông qua các hoạt động đầu tư tài chính các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi có thể được đầu tư trên thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán nhằm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể góp vốn, liên doanh liên kết vào các doanh nghiệp khác ngành, khác lĩnh vực kinh doanh nhưng tỷ suất lợi nhuận lại cao hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. - Đầu tư tài chính còn giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro: Thông qua hoạt động ĐTTC doanh nghiệp có thể đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, nhiều tài sản khác nhau. Điều này giúp từng doanh nghiệp tự xây dựng cho mình một danh mục đầu tư1 hiệu quả từ đó hạn chế rủi ro do không bỏ toàn bộ “trứng vào một rổ”. - Mặt khác, xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân, khi hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp phát triển sẽ có tác dụng điều phối vốn từ các doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Do đó, từng doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung sẽ sử dụng vốn có hiệu quả hơn. 1 Danh mục đầu tư: là một tập hợp gồm hai hay một số loại tài sản khác nhau mà doanh nghiệp đầu tư 123doc -3- 1. Các hình thức đầu tư tài chính Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, đầu tư tài chính được phân thành: đầu tư tài chính ngắn hạn và đầu tư tài chính dài hạn. Đầu tư tài chính Đầu tư tài chính Đầu tư dài hạn ngắn hạn - Đầu tư vào công ty con; - Đầu tư chứng khoán ngắn hạn: - Góp vốn liên doanh; + Cổ phiếu; - Đầu tư vào công ty liên kết; + Trái phiếu, tín phiếu, kỳ - Đầu tư dài hạn khác.
+ Cổ phiếu; - Đầu tư ngắn hạn khác: + Trái phiếu; + Tiền gửi có kỳ hạn; + Đầu tư dài hạn khác. + Đầu tư ngắn hạn khác.3: Các hình thức đầu tư tài chính tại các công ty Phi tài chính - Đầu tư tài chính ngắn hạn: Là những khoản đầu tư về vốn nhằm mục đích sinh lời có thời gian thu hồi gốc và lãi trong vòng một năm như: góp vốn liên doanh ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, đầu tư chứng khoán ngắn hạn… • Đầu tư chứng khoán ngắn hạn: Là việc dùng tiền để mua các loại trái phiếu, cổ phiếu có thể mua bán trên thị trường kể cả tín phiếu kho bạc hay kỳ phiếu ngân hàng mà có thể thu hồi trong một năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh. • Đầu tư ngắn hạn khác: Góp vốn liên doanh, cho thuê tài sản, cho vay… có thời gian thu hồi vốn trong một năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh. 123doc -4- - Đầu tư tài chính dài hạn: Là những khoản đầu tư về vốn nhằm mục đích sinh lời, có thời gian thu hồi gốc và lãi trên một năm như: đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên kết, góp vốn liên doanh dài hạn, cho vay dài hạn.
• Đầu tư vào công ty con: là hình thức đầu tư công ty mẹ nắm giữ 50% quyền biểu quyết của công ty con trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua một công ty con khác. • Góp vốn liên doanh dài hạn: Là hoạt động đầu tư tài chính mà doanh nghiệp dùng tiền, tài sản của mình để đầu tư với một doanh nghiệp khác để cùng nhau chia thu nhập hoặc chịu rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. • Đầu tư vào công ty liên kết: Là hoạt động đầu tư trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể nhưng không phải là công ty con hoặc công ty liên doanh của nhà đầu tư; nhà đầu tư có quyền đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và hoạt động của bên nhận đầu tư nhưng không kiểm soát các chính sách đó. • Đầu tư dài hạn khác: Như đầu tư kinh doanh bất động sản, cho vay vốn, cho thuê tài sản cố định theo phương thức thuê tài chính mà thời hạn thu hồi vốn trên một năm.
Quản trị rủi ro đầu tư tài chính trong công ty Phi tài chính Công ty Phi tài chính: là các công ty lấy sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thông thường làm hoạt động kinh doanh chính. Trong công ty Phi tài chính, ĐTTC sẽ tăng trưởng vốn cho công ty. Nhưng song song với những lợi ích mà công ty nhận được có thể công ty sẽ gặp phải rủi ro. Để hoạt động ĐTTC thực sự phát huy mặt tích cực của nó đòi hỏi các công ty phải quản trị được những rủi ro có thể gặp phải.
Rủi ro đơn giản là việc xảy ra trong tương lai không được như mong muốn của bạn; rủi ro được định nghĩa là tập hợp của các khả năng có thể xảy ra của một sự việc nào đó và khi nó xảy ra sẽ mang lại những tổn thất. 123doc -5- COSO2 định nghĩa quản lý rủi ro doanh nghiệp “là một quy trình được thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lược doanh nghiệp thực hiện xác định những sự vụ có khả năng xảy ra gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi cho phép nhằm đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp”. Rủi ro đầu tư tài chính tại các công ty Phi tài chính 1. Rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Hoạt động đầu tư tài chính nói chung và đầu tư chứng khoán nói riêng sẽ giúp công ty có khả năng tăng trưởng vốn, tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro nếu như công ty có chiến lược đầu tư đúng và hợp lý, trong trường hợp ngược lại công ty cũng có thể sẽ gặp phải rất nhiều rủi ro từ hoạt động này.
Để hoạt động đầu tư tài chính trong DN đạt được mục tiêu đã đề ra đòi hỏi các nhà quản lý phải quản trị được những rủi ro mà DN có thể phải đối mặt cụ thể: phải nhận diện được các rủi ro trong hoạt động đầu tư tài chính, phải hiểu được cách đo lường rủi ro và kiểm soát chúng. Chúng ta có thể phân rủi ro trong hoạt động đầu tư tài chính thành hai loại: rủi ro phi hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Rủi ro phi hệ thống (unsystematic risk) – rủi ro xảy ra đối với một công ty hay một ngành kinh doanh nào đó, nó độc lập với các yếu tố như tình hình kinh tế, chính trị hay những yếu tố mang tính chất hệ thống có ảnh hưởng đến toàn bộ các loại tài sản có trên thị trường. Rủi ro phi hệ thống chỉ xảy ra đối với từng doanh nghiệp cụ thể và không ảnh hưởng tới các doanh nghiệp khác.
Rủi ro phi hệ thống sẽ được giảm thiểu bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư. Rủi ro hệ thống (systematic risk) – rủi ro biến động lợi nhuận của một tài sản hay của nhiều tài sản đầu tư do sự thay đổi lợi nhuận trên thị trường nói chung, gây 2 the Committee of Sponsoring Organizations (COSO); Hội đồng các tổ chức tài trợ Ủy ban Treadway 123doc -6- ra bởi các yếu tố như: tác động từ chính trị, tình hình nền kinh tế, chính sách kinh tế, biến động kinh tế thế giới… Nó chính là phần rủi ro chung cho tất cả các loại tài sản và do đó không thể giảm được bằng việc đa dạng hoá danh mục đầu tư. Loại rủi ro này còn được gọi là rủi ro thị trường (market risk) và được đo lường bằng hệ số bê-ta. Độ lệch chuẩn Rủi ro phi hệ thống Độ lệch chuẩn danh mục thị trường Tổng rủi ro Rủi ro hệ thống Số lượng tài sản trong danh Hình 1.4: Sự kết hợp giữa rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Hình 1.4 thể hiện sự kết hợp hai loại rủi ro và mối quan hệ giữa rủi ro và số lượng tài sản trong danh mục đầu tư; theo đó khi số lượng tài sản trong danh mục đầu tư tăng lên thì rủi ro nói chung giảm xuống.
Rủi ro hệ thống và phi hệ thống xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu nào? Rủi ro hệ thống: là rủi ro thị trường xảy ra với một số nguyên nhân chủ yếu được thể hiện trong hình 1. 123doc -7- NGUYÊN NHÂN RỦI RO 1 2 Rủi ro hệ thống do: Rủi ro không hệ thống do: 1. Thay đổi trong lãi suất 1. Rủi ro kinh doanh 2.
Thay đổi trong sức mua (lạm 2. Rủi ro tài chính phát) 3. Rủi ro quản lý 3. Rủi ro thông tin 4.
Rủi ro do chấn động thị trường 5.