Chương I: Giới thiệu Trong chương này điểm sơ lược về tình hình giao dịch, thanh khoản và số lượng nhà đầu tư tham gia vào trên thị trường chứng khoán cũng như xu hướng nguồn vốn ngoại đổ vào Việt Nam trong thời gian qua. Từ đó chúng ta sẽ thấy được sự cần thiết phải có một nghiên cứu để kiểm tra vai trò của tổ chức nhà đầu tư nước ngoài đối với thanh khoản thị trường. Bên cạnh đó sẽ giới thiệu về mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi, dữ liệu và phương pháp để giải quyết vấn đề trên. - Chương 2: Lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu thực nghiệm.
Trong phần này chúng ta sẽ tìm hiểu một số lý thuyết hỗ trợ cho việc giải thích các mối tương quan của quyền sở hữu tổ chức nhà đầu tư nước ngoài và thanh khoản. Đó là lý thuyết sự lựa chọn bất lợi, rủi ro đạo đức và lý thuyết giao dịch. Đồng thời cung cấp cho chúng ta những bài nghiên cứu thực tế trên một số nước có thị trường tài chính phát triển và cả thị trường mới nổi. Đánh 123doc 7 giá kết quả có phù hợp với lý thuyết và những vấn đề tạo ra mối tương quan đó.
- Chương 3: Nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là phần tập trung chính của đề tài, dựa vào dữ liệu thu thập được chúng ta sẽ thực hiện hồi quy để kiểm tra tính thanh khoản sẽ được tác động như thế nào bởi quyền sở hữu tổ chức nước ngoài và các yếu tố khác của chứng khoản. Tiếp theo sẽ liên hệ với thực tế thị trường chứng khoán Việt Nam để phân tích mối tương quan của quyền sở hữu tổ chức NĐT nước ngoài và thanh khoản. - Chương 4: Kết luận.8 Ý NGHĨA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Trong bối cảnh hội nhập ngày càng mở rộng, nguồn vốn nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam tính về lâu dài thường có xu hướng tăng lên, cần phải có nghiên cứu cụ thể để đánh giá vai trò của yếu tố vốn đầu tư thông qua kênh mua bán chứng khoán đối với tính thanh khoản, hiệu quả hoạt động thị trường và khả năng truyền tín hiệu lạc quan cho những nhà đầu tư trong nước.
Bài nghiên cứu không những cung cấp cho chúng ta bằng chứng thực nghiệm về vai trò của các yếu tố góp phần trong sự thay đổi của thanh khoản của phiếu, đặc biệt là sở hữu của tổ chức nước ngoài mà những vấn đề thị trường chứng khoán Việt Nam đang gặp phải làm ảnh hưởng đến chiều hướng tác động của các yếu tố tới thanh khoản thị trường. 123doc 8 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT NỀN TẢNG VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Khi tập trung vào mối liên hệ này, đề tài sẽ tập trung vào các lý thuyết cơ bản: lý thuyết sự lựa chọn bất lợi (adverse selection), lý thuyết “rủi ro đạo đức” (moral hazard) và lý thuyết giao dịch (trade hypothesis).1 LÝ THUYẾT VỀ SỰ LỰA CHỌN BẤT LỢI (ADVERSE SELECTION) Lý thuyết sự lựa chọn bất lợi xác nhận rằng khi những cổ đông được tiếp cận thông tin nhanh hơn những cổ đông bên ngoài, sẽ phát sinh sự bất cân xứng thông tin, điều này làm giảm tính thanh khoản (e., Grossman and Stiglitz, 1980; Glosten and Milgrom,1985; Kyle, 1985; Easley and O’Hara, 1987). Thông tin bất cân xứng là tình huống phát sinh khi một bên không nhận biết đầy đủ về đối tác của mình, dẫn đến quyết định không chính xác trong quá trình giao dịch. Khi đó giá cả không là giá cân bằng của thị trường mà có thể quá thấp hoặc quá cao.
Đối với nền kinh tế mới nổi, bất cân xứng thông tin đang tồn tại gây ảnh hưởng rất lớn. Chẳng hạn, trên thị trường chứng khoán Việt Nam xuất hiện các hiện tượng : ngoài các thông tin do luật định phải công bố thì doanh nghiệp không chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời; có hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặc không được phép công khai hoặc doanh nghiệp thường ưu tiên thông tin cho những nhà đầu tư chiến lược, các nhà đầu tư có tổ chức mà không công bố rộng rãi. Lựa chọn bất lợi là do thông tin không cân xứng tạo ra trước khi diễn ra giao dịch. Trên thị trường chứng khoán xuất hiện khi nhà đầu tư không biết được những thông tin về các loại cổ phiếu của các công ty khác nhau do đó có thể mua phải cổ phiếu của công ty hoạt động kém, rủi ro cao.Vấn đề lựa chọn đối nghịch ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau : bảo hiểm, mua xe… Tóm lại lựa chọn đối nghịch dẫn đến quyết định sai lầm của một bên tham gia giao dịch mà xuất phát từ nguyên nhân thông tin bất cân xứng.
123doc 9 Dựa vào nghiên cứu của nhà kinh tế học G.AKERLOF năm 1970 “The maket for lemon quality uncertainty and maket machanisn” thì phát hiện rằng lựa chọn đối nghịch xảy ra trên bất kỳ thị trường nào có xuất hiện thông tin bất cân xứng. Một trường hợp điển hình nhất là thị trường bảo hiểm: bên cung cấp dịch vụ chấp nhận mức trả bảo hiểm cao cho khách hàng ít nguy cơ, xong họ lại ít có thông tin về thứ họ được đề nghị bảo hiểm hơn người mua bảo hiểm. Nếu người mua cung cấp thông tin không trung thực, thì công ty bảo hiểm có thể ký hợp đồng trả tiền cao cho đối tượng bảo hiểm nhiều nguy cơ. Điều tương tự trên thị trường tài chính.
Gỉa sử một nhà đầu tư đang muốn mua cổ phiếu thường, nhưng không phân biệt đâu là cổ phiếu của công ty tốt và đâu là của công ty xấu. Trong tình thế thiếu thông tin như thế này, họ chấp nhận chi trả mức giá mà nó phản ánh giá trị trung bình của các công ty hoặc yêu cầu mức giá thấp hơn mà người bán chào để giảm thiểu rủi ro của mình. Bên cạnh đó do người sở hữu có được những thông tin tốt và biết được công ty đang làm ăn hiệu quả nên không chấp nhận bán cổ phiếu của mình tại mức giá trung bình. Và cuối cùng những công ty xấu là mong muốn bán cổ phiếu cổ phiếu vì họ biết rằng cổ phiếu của họ đang được đánh giá cao.
Chúng ta có xu hướng sẽ không đầu tư vào chứng khoán nữa vì không ai muốn nắm giữ cổ phiếu của công ty tồi. Chính vì thế thị trường chứng khoán hoạt động không hiệu quả.Thanh khoản lúc này bị giảm xuống do NĐT không có động lực để tham gia thị trường.2 LÝ THUYẾT RỦI RO ĐẠO ĐỨC Lý thuyết rủi ro đạo đức luôn đi kèm với sự lựa chọn bất lợi, cụ thể rủi ro đạo đực nảy sinh khi một bên có ưu thế thông tin, hiểu được tình thế thông tin phi đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành nên động cơ hành động theo hướng có lợi cho bản thân nhất bất kể hành động đó có thể làm hại bên giao dịch kém thông tin.Rủi ro đạo đức cũng nảy sinh từ sự bất cân xứng thông tin, dẫn tới nguy cơ tổn hại về mặt tài chính đến các bên tham gia. Khi nhà đầu tư giao dịch trên thị trường kém minh bạch thông tin và họ lo ngại gặp phải rủi ro như sự lựa chọn 123doc 10 bất lợi, rủi ro đạo đức nên đã làm giảm động lực tham gia thị trường. Nhà đầu tư có thể gặp rủi ro đạo đức trên các thị trường sau: Rủi ro đạo đức trên thị trường Nợ : xảy ra khi người đi vay sử dụng những khoản vay không đúng mục đích cam kết trong hợp đồng vay nợ.
Sử dụng vốn sai trình tự, đầu tư vào những hạng mục rủi ro mà không công khai cho bên cho vay. Người đi vay bao giờ cũng hiểu rõ mục đích sử dụng của những khoản vay trong khi người cho vay thì không có đầy đủ những thông tin để đánh giá hiệu quả của những phương án sử dụng vốn đó dẫn đến dễ gặp phải những rủi ro tiềm ẩn cho người cho vay. Rủi ro đạo đức trên thị trường vốn: trong thị trường vốn NĐT cũng gặp phải rủi ro đạo đức. Thứ nhất, có sự tách bạch về mặt quản lý và sở hữu trong công ty cổ phần.
Trong quá trình hoạt động sản xuất công ty, các cổ đông không thể nắm rõ hết toàn bộ tình hình của công ty cũng như tác động của các quyết định của ban giám đốc điều hành tới hoạt động của công ty. Điều này thể hiện sự bất cân xứng thông tin giữa cổ động và ban điều hành. Thứ hai, Ban giám đốc là những người được thuê để điều hành công ty. Họ không là cổ đông hay ràng buộc về mặt tài chính đối với công ty không rõ ràng nhưng họ lại nắm khá rõ những thông tin tài chính của công ty.
Việc ra quyết định của họ sẽ thật rủi ro nếu ban giám đốc đưa ra những quyết định không đứng trên lợi ích của những cổ đông. Tóm lại rủi ro đạo đức xuất phát từ sự bất cân xứng thông tin sẽ dẫn đến rủi ro cho người kém ưu thế thông tin : người cho vay, cổ đông xuất phát từ những quyết định hay giao dịch của người đi vay, ban quan trị theo hướng có lợi cho bản thân bất chấp có thể làm tổn thất cho người cho vay hay cổ đông. Trong thị trường bất cân xứng thông tin nhà đầu tư lo ngại rủi ro đạo đức làm họ thận trọng hơn trong giao dịch thậm chí họ không có động lực tham gia thị trường, từ đó làm cho thị trường kém thanh khoản hơn.3 LÝ THUYẾT GIAO DỊCH Lý thuyết giao dịch được nghiên cứu trong (Demsetz, 1968; Merton, 1987; Schwartz and Shapiro,1992). NĐT quay vòng danh mục của mình nhiều lần hơn thì chi phí giao dịch càng thấp, thúc đẩy tăng tính thanh khoản.
Tăng thanh khoản và giảm chi phí giao dịch là 2 yếu tố của một chu trình khép kín: nếu thanh khoản tăng sẽ giảm được chi phí giao dịch và nếu chi phí giao dịch giảm sẽ là động lực thiết thực để thanh khoản tăng. Số lượng nhà đầu tư tham gia vào thị trường càng nhiều, sẽ diễn ra nhiều hoạt động mua – bán chứng khoán hơn sẽ làm tăng khối lượng giao dịch và làm cho chứng khoán dễ chuyển đổi hơn tức là làm tăng thanh khoản cho chứng khoán.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong phần này sẽ trình bày những nghiên thực nghiệm trước đây tại một số thị trường chứng khoán khác nhau, các nghiên cứu này đều sử dụng các lý thuyết nền tảng ở trên để giải thích cho mối tương quan giữa quyền sở hửu nước ngoài có tổ chức và tính thanh khoản.