CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH THANH KHOẢN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH THANH KHOẢN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Tính thanh khoản trên TTCK 1.1 Khái niệm về tính thanh khoản trên TTCK Trong nghiên cứu Tính thanh khoản và lợi nhuận cổ phiếu của Jesper Rangvid (2009), tác giả cũng đề cập tính thanh khoản chính là khả năng bán nhanh chóng, dễ dàng của tài sản mà không phải chịu bất cứ tổn thất nào. Những tổn thất đó ở đây có thể là do sự thay đổi giá hay các loại phí giao dịch. Khi nhà đầu tư cân nhắc đầu tư vào tài sản nào đó, họ cần phải cân nhắc khả năng có thể bán được tài sản đó trong tương lai hay không, chi phí bỏ ra để mua tài sản là bao nhiêu và dòng tiền trong tương lai đem lại cho nhà đầu tư như thế nào. Những cân nhắc này của nhà đầu tư liên quan đến tính thanh khoản của tài sản cũng như tính thanh khoản của tài sản tác động đến dòng tiền tương lai của nhà đầu tư.
Tất cả những yếu tố này sẽ tác động đến giá cả của tài sản. Chi phí giao dịch tốn kém và khả năng giá giảm trong tương lai khi bán không phải chỉ liên quan đến các tài sản tài chính như cổ phiếu mà bao gồm tất cả các loại tài sản. Các loại tổn thất này được gọi là chi phí do thiếu tính thanh khoản (Damoradan (2005)). Nghiên cứu của các tác giả Charlie Charoenwong, Beng Soon Chong và Yung Chiang Yang (2012) về tính thanh khoản của tài sản và cổ phiếu đã định nghĩa tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt một cách nhanh chóng mà không có thiệt hại đáng kể về giá trị.
Một cách định nghĩa sát hơn về tính thanh khoản là: “một khái niệm trong tài chính, chỉ mức độ mà một tài sản bất kỳ có thể nhanh chóng được mua hoặc bán trên thị trường màkhông làm ảnh hưởng đến giá thị trường của tài sản đó. Một tài sản có tính thanh khoản cao nếu nó có thể được bán nhanh chóng mà giá bán không giảm đáng kể” – Keynes, John Maynard (1930). Ví dụ, chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu. có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho 13 việc thanh toán hay chi tiêu.
Cách gọi khác cho tính thanh khoản là: tính lỏng, tính lưu động. Tính chất cơ bản của một thị trường có tính thanh khoản cao là ở đó luôn sẵn có và nhiều người mua và bán trong cùng một thời gian. Một thị trường có tính thanh khoản rất cao nếu tại đó có sẵn và có nhiều người mua và bán với khối lượng lớn. Thêm vào đó là các lệnh giao dịch không làm ảnh hưởng nhiều đến giá trong thị trường này.
Ngoài ra, thanh khoản thị trường còn được đặc trưng bởi chênh lệch giữa giá mua và giá bán là nhỏ. Điều này có nghĩa rằng các giao dịch được tiến hành trong một hiệu quả về mặt chi phí. Hiểu một cách đơn giản nhất, thanh khoản trên thị trường chứng khoán là mức độ dễ dàng của việc giao dịch một chứng khoán nào đó. Hiểu một cách đúng và thực tế hơn, thị trường được xem là có thanh khoản cao khi mà các chi phí giao dịch tương ứng được tối thiểu hóa.
Các thành phần cấu tạo nên tính thanh khoản bao gồm: chi phí tìm kiếm đối tác giao dịch, chi phí rủi ro tồn đọng do trì hoãn giao dịch, rủi ro lựa chọn đối nghịch và các rủi ro do bất hoàn hảo thị trường (Kyle, 1985). Vậy có thể hiểu, tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) của thị trường là một thuật ngữ kinh doanh dùng để chỉ khả năng có thể nhanh chóng mua hoặc bán hàng hoá trên thị trường mà không bị ảnh hưởng của yếu tố giá cả. Và khoảng thời gian để mua và bán háng hoá thường là ngắn hạn. Một thị trường có tính thanh khoản cao thường được đặc trưng bởi số lượng giao dịch của các hàng hóa trên thị trường là lớn.2 Các đặc trưng của tính thanh khoản trên TTCK Kyle (1985) cho rằng một thị trường thanh khoản được đặc trưng bởi độ sâu, độ kín, và khả năng tự phục hồi.
Black (1971), Harris (1990) và O'Hara (1995) đã xác định một số phương diện khác của thanh khoản thị trường đó là chênh lệch giá mua và giá bán còn gọi là độ rộng thị trường, số lượng cổ phiếu có thể giao dịch tại mức giá mua – giá bán; và mức độ nhanh chóng thực hiện các giao dịch của thị trường. Có thể nói rằng thanh khoản thị trường đề cập đến độ sâu, độ rộng, mức độ của khả năng phục hồi cũng như tốc độ giao dịch hiện nay trên thị trường: 14 • Độ sâu thị trường – là tác động của khối lượng giao dịch (KLGD) lớn lên biến động giá; • Độ rộng của thị trường – đề cập đến mức độ chặt chẽ của thị trường và do đó phản ánh chi phí của những thay đổi. Chênh lệch giá mua và bán là một dấu hiệu phổ biến của độ rộng thị trường có nghĩa là trong một thị trường thanh khoản, chênh lệch này nên đủ nhỏ để ngăn ngừa biến động giá quá mức; • Khả năng phục hồi thị trường – là khoảng thời gian cần thiết để đạt trạng thái cân bằng trong trường hợp có biến động giá đáng kể. Biến động thường được gây ra bởi những dòng tin tức (thường là tin tức tiêu cực) hoặc khối lượng giao dịch (KLGD) lớn.
Một thị trường có khả năng phục hồi là một thị trường lớn mạnh, nơi mà giá cả được khôi phục đến một mức giá trung bình hay một mức giá hợp lý trong một khoảng thời gian ngắn; • Thời gian – là tốc độ mà các giao dịch được hấp thụ bởi thị trường. Trong một thị trường thanh khoản, các giao dịch sẽ được thực hiện với một độ trễ tối thiểu. (2004) năm cấp độ khác nhau của thanh khoản thị trường được xác định từ các đặc trưng trên của thanh khoản có thể được tập hợp lại như sau: Mức độ 1: Khả năng giao dịch tại các thị trường. Nếu tính thanh khoản không tồn tại ở tất cả các thị trường thì sẽ không có giao dịch có thể xảy ra.
Trong một thị trường có thanh khoản, ít nhất tồn tại một giá mua và một giá bán làm cho giao dịch có thể xảy ra. Mức độ 2: Khả năng để mua hoặc bán một lượng nhất định của một tài sản có ảnh hưởng vào giá niêm yết. Nếu có thể được mua bán, câu hỏi tiếp theo chính là tác động giá giao dịch. Trong một thị trường thanh khoản, có thể giao dịch một lượng nhất định của cổ phiếu và ít ảnh hưởng vào giá niêm yết.
Mức độ 3: Khả năng để mua hoặc bán một lượng nhất định của một tài sản mà không ảnh hưởng vào giá niêm yết. Thị trường chứng khoán càng thanh khoản thì càng ít tác động vào giá niêm yết. Như vậy là nếu tăng tính thanh khoản, đến một 15 mốc điểm mà ở đó giá cả không thể tác động hơn nữa đối với một lượng nhất định của cổ phiếu. Mức độ 4: Khả năng mua và bán một tài sản tại cùng một mức giá và tại cùng một thời điểm giống nhau.
Mức độ 5: Khả năng để thực hiện một giao dịch ngay lập tức. Hình 1 cho thấy các mức độ khác nhau của tính thanh khoản. Mức độ 1 tới mức độ 3 là hiển nhiên nhưng mức độ 4 và 5 không rõ, không biết là có thể nằm ở trên cùng hay không vì hai mức này thể hiện đặc tính khác của tính thanh khoản. Có người cho rằng mức độ 1 là “không có khả năng giao dịch” vì ở trạng thái này vẫn có khả năng giao dịch nhưng với một mức ảnh hưởng giá rất lớn, sau đó mới đến mức thứ hai là “Giao dịch ngay lập tức”.
Giao dịch ngay lập tức 4. Mua và bán mức giá giống nhau 3. Giao dịch không có ảnh hưởng về giá 2. Giao dịch có ảnh hưởng về giá 1.
Khả năng giao dịch rất thấp Hình 1.1: Các mức độ thanh khoản Nguồn: Tự tổng hợp Chúng ta có thể chỉ quan tâm đến một đặc tính của tính thanh khoản, có thể sử dụng nhiều thước đo khác nhau để xác định nhiều đặc tính khác nhau của tính thanh khoản và cũng có thể sử dụng thước đo thanh khoản tổng hợp để đo tính thanh khoản. 16 Như vậy một cổ phiếu được đánh giá là thanh khoản trên thị trường khi nó chặt chẽ, sâu, nhanh và đàn hồi tức cổ phiếu có chênh lệch giá thấp, khối lượng giao dịch lớn, thời gian giao dịch ngắn và sai lệch của các chênh lệch giá khỏi mức cạnh tranh được điều chỉnh lại một cách nhanh chóng. Các thành phần này không tồn tại độc lập mà tương tác qua lại ảnh hưởng lẫn nhau quyết định tính thanh khoản của cổ phiếu. Theo Tổ chức Quốc tế của các Uỷ ban Chứng khoán (IOSCO), các biện pháp truyền thống đo lường tính thanh khoản của thị trường bao gồm KLGD (hoặc số lượng giao dịch), doanh thu thị trường, chênh lệch giá mua bán và tốc độ giao dịch.
Ngoài ra, thanh khoản cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố cơ bản kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính. Đó là các chính sách tài chính của một quốc gia, chế độ tỷ giá hối đoái cũng như môi trường pháp lý chung. Tâm lý thị trường và niềm tin nhà đầu tư cũng là chìa khóa để cải thiện các điều kiện thanh khoản. Trên một mức độ vi mô hơn, các loại công cụ giao dịch, bản chất của những chủ thể tham gia có liên quan cũng như cấu trúc của thị trường sẽ có một tác động đáng kể đến tính thanh khoản của thị trường.
Thanh khoản thị trường, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả thị trường, chủ yếu được quyết định bởi hiệu lực và hiệu quả của chức năng phát hiện giá cả của thị trường. Ví dụ, sự không chắc chắn đồng nghĩa với giá thực hiện thấp đối với thị trường thanh khoản. Điều này không nhất thiết có nghĩa rằng giá thực hiện là giống với mức giá trung bình của chênh lệch giá mua và bán; mà đúng hơn là độ lệch giữa giá mua và bán nên có thể dự đoán được và là nhỏ nhất. Trong thực tế, điều này có thể được liên hệ với chênh lệch giá mua bán thấp và ổn định.
Do đó, thị trường thanh khoản nên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia và rút lui khỏi thị trường bằng cách đó là giảm giá trị danh nghĩa tối thiểu, hạ thấp chi phí giao dịch và trong một khung thời gian ngắn.