Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp và Dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và Khuyến nghị 123doc 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cấu trúc sở hữu Để diễn tả tính đa dạng trong các thành phần sở hữu công ty, Jensen và Meckling (1976) đã dùng khái niệm Cấu trúc sở hữu trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu”. Khái niệm này dùng để chỉ phần vốn mà các thành viên trong công ty nắm giữ. Các thành viên này có thể là bên trong công ty (thành phần quản lý trực tiếp) và cũng có thể là bên ngoài công ty (nhà đầu tư không giữ vai trò quản lý trực tiếp). Ngày nay, cấu trúc sở hữu được hiểu là sự phân chia quyền sở hữu giữa các chủ sở hữu công ty (Jiang, 2004).
Và quyền sở hữu này được phân chia theo mức độ là quyền sở hữu tập trung và quyền sở hữu hỗn hợp/ phân tán. Theo mức độ tập trung: Quyền sở hữu tập trung liên quan đến những cổ đông nắm giữ nhiều cổ phiếu nhất và vì vậy họ sở hữu phần lớn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và có quyền chi phối các quyết định của doanh nghiệp. Những cổ đông lớn này tham gia vào Hội đồng quản trị và Ban điều hành, từ đó họ trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Theo thông lệ, cổ đông lớn thường có quyền biểu quyết lớn hơn cổ đông nhỏ, dù có thể họ không sở hữu toàn bộ vốn, do đó họ vẫn có thể kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp.
Vì vậy, với đặc trưng đó có thể xem nó là hệ thống nội bộ. Với cấu trúc sở hữu theo mức độ tập trung này, hoạt động của doanh nghiệp được kiểm soát bởi những cổ đông lớn do đó nó có những thuận lợi nhất định. Đó là do lợi ích của họ gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp nên họ có động lực để tăng cường kiểm soát trong các hoạt động của doanh nghiệp để tránh những rủi ro gây thiệt hại cho lợi ích của họ. Nhờ đó, hệ thống quản trị điều hành của doanh nghiệp ngày càng được nâng cao.
Từ những quyền lợi và lợi ích đó, họ luôn có xu hướng đầu tư lâu dài và những quyết định giúp tăng cường hiệu quả hoạt động dài hạn sẽ được họ ủng hộ hơn là ngắn hạn. 123doc 7 Tuy nhiên, ở chiều ngược lại hệ thống này cũng có những nhược điểm dẫn đến những thất bại trong điều hành và quản trị doanh nghiệp. Vì những người điều hành là cổ đông lớn, nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp do đó họ có thể có những hành động nhằm đem đến lợi ích cho riêng họ mà trong lĩnh vực tài chính gọi là “chi phí đại diện”. Theo mức độ phân tán: Quyền sở hữu phân tán liên quan đến việc xác định cổ đông nắm giữ cổ phần.
Theo đó, doanh nghiệp sẽ có rất nhiều cổ đông, các cổ đông có thể là cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức. Tuy nhiên, sẽ không có đối tượng nào trong các cổ đông đó nắm giữ phần lớn vốn của doanh nghiệp và có quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp. Quyền kiểm soát doanh nghiệp thuộc về Ban giám đốc. Vì vậy, việc tham gia điều hành, giám sát các hoạt động của doanh nghiệp không tạo ra nhiều động lực cũng như sức hấp dẫn để họ tham gia vào mà họ chỉ quan tâm đến các lợi ích trong ngắn hạn.
Cho nên có thể xem đặc điểm của cấu trúc này là hệ thống bên ngoài và các cổ đông này được xem là người bên ngoài. Với hệ thống cấu trúc sở hữu theo mức độ phân tán, người quản lý hoạt động doanh nghiệp không nhất thiết phải góp vốn vào doanh nghiệp mới được quản lý, điều hành nên trách nhiệm và lợi ích kinh tế mà họ nhận được thường khá rạch ròi. Do có nhiều cổ đông, nên đòi hỏi hoạt động giám sát phải được tiến hành chặt chẽ và công khai trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, với bản chất của cấu trúc này là có nhiều cổ đông nhưng phần lớn là các cổ đông nhỏ và họ dễ dàng thoái vốn khỏi doanh nghiệp nên họ ít có động lực để tham gia quản lý doanh nghiệp và vì vậy họ có khuynh hướng ủng hộ những quyết định mang đến lợi ích ngắn hạn hơn dài hạn.
Ngoài phân loại như trên, cấu trúc sở hữu có thể phân loại dựa vào đối tượng sở hữu như sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, ….2 Lý thuyết người dại diện (Agency Theory) Jensen và Meckling (1976), đã nêu quan điềm về lý thuyết người đại diện trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu”. Bài nghiên cứu này được các học giả, nhà nghiên cứu về kinh 123doc 8 tế, tài chính trích dẫn khá nhiều. Lý thuyết này dựa trên cơ sở từ tâm lý học đã được nghiên cứu trước đó “Con người có khuynh hướng cá nhân, cơ hội, và tư lợi”. Vấn đề là làm sao để các lợi ích này được dung hoà để cùng có lợi và phát triển.
Các trích dẫn từ lý thuyết này bao gồm: - Thứ nhất, đó là luôn có sự mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ doanh nghiệp hay người sở hữu vốn và người điều hành, quản trị doanh nghiệp hay người đại diện doanh nghiệp. Người sở hữu vốn quan tâm đến những lợi ích của họ như giá trị doanh nghiệp, giá cổ phiếu. Trong khi đó, người đại diện, về cơ bản, thường quan tâm đến lợi ích của họ như các chế độ, chính sách khen thưởng,… hơn là lợi ích của cổ đông. - Thứ hai, lợi ích giữa nhà quản trị và chủ sở hữu vốn là không đồng nhất, do đó làm phát sinh một loạt chi phí mà thường được gọi là chi phí đại diện.
Khi người sở hữu doanh nghiệp và người quản trị/ người đại diện doanh nghiệp là một thì chi phí này bằng không (0). - Thứ ba, chi phí đại diện càng tăng khi người quản trị sở hữu ít hoặc không sổ hữu cổ phần nào của doanh nghiệp. Fama & Jensen (1983), trong một nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và chi phí người đại diện kết luận rằng “trong một công ty luôn có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát. Nói cách khác, người sở hữu thực sự của công ty không tham gia vào việc quản lý công ty và chi phí đại diện sẽ xuất hiện vì tình trạng bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các cổ đông.
Nhà quản lý có nhiều thông tin về tình hình công ty và họ sẽ dùng quyền quản lý để trục lợi cho bản thân”. Theo dòng thời gian, ngày càng nhiều những nghiên cứu thực nghiệm về chi phí đại diện dưới ảnh hưởng của mức độ sở hữu: Brickley, Lease & Smith (1988) hay Agrawal & Mandelker (1990) đều cho rằng các nhà đầu tư tổ chức với những đặc tính riêng có so với nhà đầu tư cá nhân, 123doc 9 họ có đủ động lực cũng như khả năng đóng vai trò như kiểm soát viên trong doanh nghiệp và do đó có thể làm giảm chi phí đại diện. Mak & Li (2001), cho rằng các doanh nghiệp có sở hữu của nhà nước thường có chi phí đại diện tăng, điều này do với ưu thế của mình, các công ty này thường dễ huy động vốn hơn nhưng lại kém chủ động trong việc kiểm soát các khoản đầu tư của mình. Ang, Cole& Lin (2000), thông qua nghiên cứu các công ty chưa niêm yết tại Mỹ đã nhận xét rằng những doanh nghiệp được quản lý bởi Giám đốc không phải là cổ đông của doanh nghiệp thường có chi phí đại diện tăng lên đáng kể.
Hơn nữa, số lượng cổ phần của nhà quản trị và chi phí đại diện có mối quan tương quan ngược chiều nhau. Và tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài cũng có ảnh hưởng nhất định đến chi phí đại diện. Xu, Zhu và Lin (2005) cho rằng những doanh nghiệp ở Trung Quốc có sở hữu nước ngoài càng cao thì doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn vì được kiểm soát tốt hơn do nhà đầu tư nước ngoài đem kinh nghiệm, kiến thức, và công nghệ quản trị tiên tiến vào quản trị doanh nghiệp, từ đó chi phí đại diện được giảm bớt. Như vậy, có thể thấy rằng ở các quốc gia khác nhau thì vấn đề đại diện và cấu trúc sở hữu luôn tồn tại mối tương quan với nhau.
Trong đó, nổi bật lên vai trò giải thích của tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhà quản lý công ty, cũng như vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ trong việc kiểm soát hoạt động của công ty.3 Lý thuyết về sở hữu nước ngoài Cơ cấu vốn chủ sở hữu nước ngoài là phần góp vốn của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài vào vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thông qua việc phát hành chứng khoán ra công chúng. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài được xác định bằng tỷ lệ cổ phiếu cổ đông do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành của 123doc 10 doanh nghiệp. Qua thời gian, tỷ lệ này có thể thay đổi do sự điều chỉnh của chính sách quản lý Nhà nước. Theo Almukhtar Al-Abri và Hamid Baghestani (2015), đầu tư nước ngoài bao gồm nợ nước ngoài, đầu tư nước ngoài trực tiếp (Foreign Direct Investment, FDI) và đầu tư nước ngoài gián tiếp (Foreign Portfolio Investment, FPI).
Đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI): Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) “Đầu tư nước ngoài trực tiếp xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty”.
Đầu tư nước ngoài gián tiếp (FPI): Theo giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Tài chính thì “Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nằm mục đích kiếm lời, chủ sở hữu vốn không trực tiếp điều hành và quản lý quá trình sử dụng vốn.