Chương 1 giới thiệu về đề tài nghiên cứu bao gồm bối cảnh nghiên cứu, các vấn đề cần được giải quyết và hướng giải quyết sẽ được trình bày trong các chương sau. Chương 2 khảo sát cơ sở lý thuyết. Chương 3 mô tả bộ số liệu và kết quả chạy mô hình CAPM. Chương 4 phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu.
Cuối cùng chương 5 rút ra kết luận và đề xuất những giải pháp có thể thực hiện căn cứ vào kết quả phân tích ở chương 4. 123doc ‐7‐ Chương 2 THỊ TRƯỜNG HIỆU QUẢ VÀ TÂM LÝ KỲ VỌNG CỦA NHÀ ĐẦU TƯ Để xác định được dạng hiệu quả của thị trường từ đó phân tích rõ các nguyên nhân chủ yếu thì cũng cần hiểu rõ thế nào là thị trường hiệu quả và các lý thuyết về tâm lý kỳ vọng của nhà đầu tư. Lý thuyết xây dựng xung quanh các vấn đề về thị trường chứng khoán còn khá mới và là chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, trong đó phải kể đến hai tác giả lớn là Ross (2007) và Miskhin(1995) đã đưa ra các định nghĩa về các dạng hiệu quả của thị trường và lý thuyết kỳ vọng hợp lý rất hữu ích cho đề tài. 1/ Thị trường hiệu quả Thị trường hiệu quả là một trạng thái lý tưởng mà mọi thị trường chứng khoán đang muốn vươn đến.
Định nghĩa về trạng thái này hiện nay có rất nhiều ý kiến, theo cách nhìn chung thì khái niệm này thực chất là một điểm chỉ ra cho các thị trường cùng điều chỉnh để hướng tới, khó có một thị trường nào có thể được xem là hiệu quả tuyệt đối. Miskhin(1995) cho rằng trong một thị trường hiệu quả, tất cả các cơ hội lợi nhuận chưa được khai thác sẽ không tồn tại. Tuy nhiên, cũng nhằm để khẳng định rằng việc đạt đến một thị trường hiệu quả hoàn toàn là điều hết sức khó khăn nếu không muốn nói là không thể thì Miskhin cũng khẳng định không phải tất cả mọi người tham gia thị trường tài chính đều phải có đầy đủ thông tin hoặc có kỳ vọng hợp lý để giá chứng khoán có thể trở về mức mà tại đó các thị trường hiệu quả được thỏa mãn. Thị trường luôn trong trạng thái kém hiệu quả sẽ phơi bày ra những cơ hội cho một số người tìm kiếm lợi nhuận cao hơn, và chính sự trục lợi của nhóm 123doc ‐8‐ người này sẽ giúp những thiên lệch của thị trường bị thu nhỏ dần và giúp cho thị trường ngày càng hiệu quả hơn.
Ross (2007) bổ sung thêm một số hàm ý với nhà đầu tư và các công ty khi thị trường chứng khoán đạt trạng thái hiệu quả đó là: Với nhà đầu tư, khi thị trường đạt đến mức hiệu quả tức mọi thông tin sẽ được phản ánh hết trong giá trị của cổ phiếu, họ sẽ chỉ nhận được tỷ suất lợi nhuận bình thường. Thị trường đã ý thức được hết mọi thông tin tốt xấu có nghĩa là nhà đầu tư cũng không thể trục lợi được gì và giá cả đã được điều chỉnh nhanh chóng ngay trước thời điểm nhà đầu tư mua bán chứng khoán. Các công ty cũng sẽ chỉ nhận được một mức giá thể hiện đúng giá trị cổ phiếu mà họ bán ra khi thị trường hiệu quả. Giá trị đúng ở đây có nghĩa là giá trị hiện tại (NPV).
Điều này có nghĩa là cơ hội cho các công ty thu được lợi nhuận từ việc bán cổ phiếu với mức giá cao hơn sẽ không có. Ross(2007) cũng đưa ra ba loại hiệu quả của thị trường như sau: Thị trường hiệu quả dạng yếu: là thị trường mà ở đó giá đã phản ánh tất cả các thông tin trong quá khứ. Đối với loại thị trường này, nếu nhà đầu tư dùng phương pháp phân tích kỹ thuật nghĩa là dùng số liệu giá cổ phiếu trong quá khứ để dự đoán giá tương lai thì họ sẽ không thu được mức lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung bình của thị trường do không thể tìm ra những chứng khoán đang được rao bán với mức giá cao hoặc thấp hơn giá trị thực của nó. Thị trường hiệu quả dạng yếu có thể được biểu diễn bằng đồ thị sau đây: Pt = Pt-1 + Lợi nhuận kỳ vọng + Sai số ngẫu nhiênt (2.1) Công thức trên có nghĩa là mức giá chứng khoán hiện tại sẽ bằng tổng của mức giá quan sát trong quá khứ với lợi nhuận kỳ vọng và sai số ngẫu nhiên.
Mức giá trong quá khứ có thể là giá của ngày hôm qua, của tuần trước hay của tháng 123doc ‐9‐ trước tùy thuộc vào cách thức lấy mẫu. Lợi nhuận kỳ vọng là một hàm tính toán dựa trên độ rủi ro của chứng khoán. Sai số ngẫu nhiên tồn tại là do tác động của một số thông tin mới phát sinh có ảnh hưởng đến chứng khoán. Sai số này có thể mang giá trị âm hoặc dương và được kỳ vọng bằng 0.
Sai số không căn cứ vào giá chứng khoán trong quá khứ. Thị trường hiệu quả dạng trung bình: là thị trường mà ở đó giá cổ phiếu đã phản ánh đầy đủ tất cả các thông tin đã được công bố chính thức. Có hai cách để kiểm tra xem thị trường có thật sự rơi vào trạng thái hiệu quả như trên hay không đó là: nghiên cứu sự kiện và dựa vào chỉ số của các quỹ hỗ tương. Phương pháp nghiên cứu sự kiện sẽ được đề tài trình bày kỹ trong mục 3 của chương này.
Cách thức tính toán căn cứ vào các quỹ hỗ tương được thực hiện bằng việc so sánh xem lợi nhuận trung bình của một quỹ hỗ tương đang đầu tư vào một số các chứng khoán được lựa chọn có bằng với lợi nhuận trung bình của các nhà đầu tư trên thị trường hay không. Với loại thị trường hiệu quả dạng trung bình, nếu nhà đầu tư áp dụng phương pháp phân tích căn cứ vào tất cả những thông tin được công bố để tính toán giá trị của cổ phiếu thì cũng sẽ không thể tìm ra được những chứng khoán đang được rao bán với mức giá cao hơn hoặc thấp hơn già trị thực để thu được nguồn lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận bình quân vì tất cả thông tin được công bố đều đã được phản ánh vào giá cổ phiếu. Thị trường hiệu quả dạng mạnh: là thị trường mà ở đó giá cổ phiếu ngoài việc phản ánh những thông tin công bố chính thức còn phản ánh luôn cả những thông tin nội gián, những thông tin vẫn chưa kịp công bố. 123doc ‐10‐ Với loại thị trường này, nhà đầu tư cho dù có thông tin nội gián cũng không thể trục lợi.
Nhà đầu tư sẽ chẳng thể thu được mức lợi nhuận cao hơn lợi nhuận trung bình cho dù có kiếm được nhiều thông tin đến đâu. Nhìn chung, thị trường hiệu quả là một đặc điểm cần vươn tới vì nếu các nhà đầu tư có sự năng động trong việc tìm hiểu nguồn thông tin và đánh giá qua nhiều kênh khác nhau thì mức giá họ mua bán cổ phiếu sẽ sát với giá trị thật của cổ phiếu đó hơn. Trong trường hợp thị trường vẫn còn không hiệu quả khiến nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu với giá thấp hơn thì những nhà đầu tư khôn ngoan sẽ tận dụng cơ hội này để mua vào nhiều cổ phiếu, hành động này góp phần giúp giá cổ phiếu bắt đầu tăng lên và đạt đến mức giá đúng bằng giá trị nội tại của nó. Ngược lại, khi giá cổ phiếu bắt đầu bị định giá cao hơn giá trị thật thì các nhà đầu tư có thể làm động tác ngược lại là bán cổ phiếu đó ra để hưởng lợi, động tác này cũng làm giá cổ phiếu giảm xuống để quay về đúng giá trị kỳ vọng hợp lý.
Và nói như vậy cũng có nghĩa là khi thị trường đạt đến mức hiệu quả thì việc đầu tư vào thị trường sẽ đem lại lợi nhuận tương đương với khi đầu tư vào những thị trường khác và suất sinh lợi từ thị trường chứng khoán có thể được sử dụng như một chỉ số về suất sinh lợi nói chung của đồng vốn. 2/ Tâm lý kỳ vọng của nhà đầu tư 2.1/ Lý thuyết kỳ vọng hợp lý Việc nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tùy thuộc vào kỳ vọng của họ vào giá cổ phiếu đó trong tương lai. Các nhà nghiên cứu đã xây dựng nên hẳn một cơ sở lý thuyết về kỳ vọng hợp lý do tính chất kỳ vọng luôn bao trùm lên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế. Lý thuyết kỳ vọng thích ứng ra đời trong những năm 50, 60 cho rằng kỳ vọng chỉ được hình thành từ các kinh nghiệm trong quá khứ.
Tuy nhiên, nhược điểm của lập luận này nằm ở chỗ sự kỳ 123doc ‐11‐ vọng của con người còn bị ảnh hưởng bởi những dự đoán của họ về các chính sách trong tương lai nữa. Con người cũng luôn biết cách điều chỉnh để thay đổi kỳ vọng của mình bất cứ lúc nào khi họ nhận được những thông tin mới. Lý thuyết kỳ vọng hợp lý ra đời được xem như là khắc phục những khuyết điểm nêu trên. John Muth (1961) cho rằng kỳ vọng sẽ đồng nhất với dự báo tối ưu (ước lượng tốt nhất về tương lai) dựa trên tất cả các thông tin sẵn có.
Với cách phát biểu này, khi xem xét lại ta sẽ thấy có một yếu tố khiến cho việc hình thành kỳ vọng của nhà đầu tư trở nên khó khăn, đó là thông tin. Không phải tất cả các nhà đầu tư đều có thể có đầy đủ tất cả các thông tin trước khi quyết định mua bán trên thị trường chứng khoán, đó là chưa kể đến việc thông tin mà họ có được có thể khiến cho hành vi của họ bị sai lệch gây bóp méo giá trị kỳ vọng. Chính vì vậy, kỳ vọng không được đảm bảo là sẽ hoàn toàn chính xác. Có hai lý do chính khiến người ta khó đưa ra được một kỳ vọng chính xác: Thứ nhất là cho dù người kỳ vọng có thu thập được đầy đủ các thông tin nhưng việc đưa các thông tin đó vào tính toán để có được một dự báo chính xác là quá khó khăn và mất nhiều công sức.
Chính vì vậy, người ta đành chọn cách thức tính toán đơn giản hơn để có một dự báo gần đúng (chứ không phải là chính xác). Thứ hai là do người ta không thể thu thập đầy đủ các thông tin để đưa ra một dự báo chính xác. Miskhin (1992) phát biểu lý thuyết kỳ vọng hợp lý thông qua một biểu thức: Xe = Xof (2.