Chương 1: Cơ sở lý luận quản trị hoạt động tín dụng, tiết kiệm của Tổ chức tài chính vi mô. Chương 2: Thực trạng quản trị hoạt động tín dụng, tiết kiệm tại Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV tình thương (TYM) chi nhánh Mê Linh, Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị hoạt động tín dụng, tiết kiệm tại Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV tình thương (TYM) chi nhánh Mê Linh, Hà Nội, Luan van 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG, TIẾT KIỆM CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 1. Tổng quan về tài chính vi mô 1.
Khái niệm tài chính vi mô Tài chính vi mô không phải là một khái niệm hoàn toàn mới mà nguồn gốc của nó đã được tìm thấy từ thế kỉ XV tại Châu Âu. Tại thời gian này, giáo hội Công giáo đã thành lập những cửa hàng cho vay thế chấp để bảo vệ người dân khỏi nhóm người cho vay nặng lãi với lãi suất cao. Như vậy có thể nói rằng “tài chính phi chính thức và nhóm tự hỗ trợ là nguồn gốc của tài chính vi mô ở Châu Âu” (Seibel, 2005, tr. Đầu những năm 1720, nhiều tổ chức tín dụng và tiết kiệm chính thức đã được thành lập tại Ireland với một quỹ cho vay được huy động nguồn lực các nguồn tài trợ để cho vay với cơ chế miễn phí lãi suất và trả góp theo tuần.
Đến đầu những năm 1800, một tổ chức tài chính hoạt động giống như một hợp tác xã được thành lập bởi một người Đức là Friedrich Wilhelm Raiffeisen. Tổ chức này đã phát triển mạnh trên toàn nước Đức và sau này phát triển vùng hoạt động ra châu Âu, Bắc Mỹ và tiến xa hơn là các đang phát triển. Đến những năm 1900, mô hình hoạt động của Raiffeisen bắt đầu có sự phù hợp với đại bộ phận các hộ gia đình nông thôn khu vực M Latinh (Helms, 2006, tr. Bên cạnh đó, các dịch vụ tài chính của hợp tác xã Raiffeisen được thiết kế nhằm đắp ứng nhu cầu sản xuất của thành viên là các hộ gia đình như nhu cầu về giống, phân bón.
và một phần khác là giúp họ tiếp cận thị trường. Một mốc quan trọng khác trong lịch sử phát triển ngành tài chinh vi mô là việc hoạt động của Ngân hàng tín dụng nhân dân Indonesia (IPCB1) vào năm 1895 đã trở thành một hệ thống TCVM lớn nhất Indonesia. Khái niệm và mô hình hoạt động của TCVM tiếp tục được hoàn thiện và trở nên toàn diện hơn. Năm 1974, giáo sư người Bangladesh là Mahammad Yunus đã giải ngân khoản vay đầu tiên từ khoản tiền của chính ông cho một nhóm phụ nữ ở vùng Jobra (Yunus, 1999) với hình thức không thế chấp mà dùng bảo lãnh nhóm tức mọi thành viên trong nhóm sẽ bảo lãnh cho nhau, nếu một người không trả được thì các thành viên khác phải có Luan van 9 trách nhiệm trả nợ cho thành viên đó và đó chính là tiền đề của sự hình thành mô hình tài chính vi mô điển hình trên thế giới – Ngân hàng Grameen sau này.
Các khái niệm về TCVM cũng rất đa dạng và phong phú. Theo nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo (CGAP, 2000), thì “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền và bảo hiểm vi mô và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp bởi một cơ chế thích hợp, giúp có thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp tăng thêm thu nhập cải thiện cuộc sống”[24]. TCVM được định ngh a chung hơn là việc cung cấp dịch vụ tài chính cho những người bị từ chối cấp tín dụng từ các Tổ chức tín dụng chính thức (UNCDF, 2002). Theo cách hiểu truyền thống, TCVM được coi là hoạt động cung cấp các món vay nhỏ, ngắn hạn cho những người nghèo có nhu cầu vay vốn khẩn cấp nhưng không thể tiếp cận được các dịch vụ tài chính chính thức, mà qua đó các hình thức như cầm đồ, hụi họ hay cho vay tư nhân ở địa phương cũng được hiểu là hoạt động tài chính vi mô.
Theo Ngân hàng phát triển châu Á (ADB): “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ”. Ở Việt Nam, mặc dù Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 đã chính thức đề cập đến TCVM song một sự lý giải đầy đủ về TCVM vẫn chưa được thực hiện. Các văn bản điều chỉnh l nh vực này chưa thống nhất: trong khi Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) đã có hiệu lực, đồng ngh a với việc thuật ngữ TCVM đã chính thức được luật hóa, nhưng những văn bản dưới luật được ban hành từ nhiều năm trước (Nghị định 28/2015/NĐ – CP; Nghị định 165/2007/NĐ – CP và Thông tư 02/2008/TT – NHNN) vẫn tiếp tục có hiệu lực và đương nhiên, thuật ngữ được sử dụng không phải là TCVM mà là tài chính quy mô nhỏ (TCQMN). Dường như, ngành TCVM Việt Nam vẫn chưa nhận được sự quan tâm cần thiết từ phía các cơ quan công quyền.
Tuy nhiên, với sự tồn tại song song của những văn bản này, chúng ta cũng có thể hiểu, TCVM là khái niệm được sử dụng để thay thế cho khái niệm TCQMN trước đây. Như vậy, theo quy định tại Khoản 1 và 4 Điều 2 Nghị định 28/NĐ – CP và Khoản 1 Điều 1 Nghị định 165/NĐ – CP thì: Luan van 10 “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo.” Dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản gồm: Tín dụng quy mô nhỏ; nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc; tiền gửi tự nguyện; một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp; “Tín dụng quy mô nhỏ là khoản cho vay có giá trị nhỏ, có hoặc không có tài sản bảo đảm đối với các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp để sử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiển điều kiện sống.” TCVM là hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho nhóm khách hàng nghèo, đa phần không có thế chấp và không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức. Như vậy TCVM cũng được phục vụ các doanh nghiệp siêu nhỏ ở giai đoạn bắt đầu khởi nghiệp và rất khó được vay vốn ngân hàng. Tạo ra các dịch vụ tài chính cho người nghèo, ví dụ tín dụng hay tiết kiệm, người nghèo phải quản lý chi tiêu của họ khác đi, phải đầu tư, mua tài sản lao động để phát triển tay nghề, bắt đầu kinh doanh, hay khi phải đối mặt với những bấp bênh của cuộc sống với thu nhập thấp thì họ được đảm bảo khi mua bảo hiểm vi mô.
Tổ chức tài chính vi mô Khái niệm tổ chức TCVM hiện nay vẫn tồn tại khá nhiều khái niệm khác nhau. Theo Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) thì “Tổ chức TCVM là các tổ chức có hoạt động kinh doanh chủ yếu về TCVM” [17] và cơ quan này cũng xác định TCVM không chỉ được cung ứng bởi các tổ chức TCVM mà trái lại, có tới ba nguồn cung ứng dịch vụ TCVM bao gồm: các tổ chức chính thức, ví dụ các NH và cá hợp tác xã; các tổ chức bán chính thức, các tổ chức phi chính phủ và nguồn không chính thức, như những người cho vay tiền và chủ hiệu. Theo tổ chức CGAP thì các tổ chức TCVM bao gồm: NHTM; các Ngân hàng Phát triển nhà nước cung cấp dịch vụ TCVM (các tổ chức TCVM NH) và các hợp tác xã tài chính gồm các hiệp hội tín dụng, các tổ chức được cấp phép và không được cấp giấy phép khác (các tổ chức TCVM phi NH). Như vậy, tổ chức TCVM là một tổ chức có cung ứng dịch vụ TCVM mà không cần bận tâm đến việc TCVM có phải là hoạt động chủ yếu của tổ chức đó hay không.
Luan van 11 Theo Microfinance network (Mạng lưới TCVM – MFN) các tổ chức TCVM bao gồm nhiều loại hình tổ chức bao gồm những chương trình TCVM phi lợi nhuận hình thành nên các tổ chức TCVM chính thức, các NH của Chính phủ cáo bộ phận hoạt động TCVM, các hiệp hội tín dụng. Chính phủ Việt Nam đã có những văn bản để điều chỉnh về TCVM xác định: “Tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, NH, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một dịch vụ tài chính, NH nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp” [1, Khoản 2 Điều 2], đây chính là nền cho việc tiếp cận đến khái niệm tổ chức TCVM ở Việt Nam. Khi Luật các TCTD năm 2010 được ban hành thì TCVM và tổ chức TCVM được quy định rõ ràng hơn và dường như, đúng đắn hơn khi đã trả lại cho l nh vực này tên gọi vốn có của nó theo thông lệ quốc tế, theo đó: “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ” [14, Khoản 5 Điều 4]. Theo ngh a rộng, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho những người có thu nhập thấp đều có thể gọi là tổ chức tài chính vi mô: bao gồm các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tài chính, hợp tác xã tín dụng, quỹ Tín dụng nhân dân, ngân hàng thương mại.Quan niệm này khẳng định một tổ chức có thể có nhiều hoạt động phi tài chính khác nhưng nếu có một phần nhỏ hoạt động liên quan đến cung cấp dịch vụ tài chính vi mô thì cũng có thể được gọi là tổ chức TCVM.
Cũng có những quan điểm chỉ nên tập trung vào các tổ chức tài chính quy mô nhỏ, không phân biệt chính thức và phi chính thức. Luật các Tổ chức tính dụng quy định Tổ chức TCVM là “loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”.