Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG 1. Tín dụng và rủi ro tín dụng tại Quỹ Đầu tư phát triển địa phương 1. Qũy Đầu tư phát triển địa phương: Quỹ đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương; thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển. Quỹ đầu tư phát triển địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Tên gọi của Quỹ đầu tư phát triển địa phương là: Quỹ đầu tư phát triển, ghép với tên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Quỹ đầu tư phát triển địa phương được thực hiện các hoạt động sau: Huy động vốn trung, dài hạn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; Đầu tư, bao gồm đầu tư trực tiếp vào các dự án; cho vay đầu tư; góp vốn thành lập doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Ủy thác cho vay đầu tư, thu hồi nợ; nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn đầu tư, cho vay đầu tư, thu hồi nợ, cấp phát vốn đầu tư, phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn cho ngân sách địa phương theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh). Căn cứ vào nguồn vốn hình thành, Quỹ Đầu tư được chia thành: Quỹ đầu tư của chính quyền trung ương: Là loại Quỹ đầu tư do chính quyền thành lập và cấp vốn điều lệ để hoạt động. Loại Quỹ này được thành lập nhằm thực hiện những mục tiêu của Chính phủ trong từng thời kỳ và thường có phạm vi hoạt động trong toàn bộ lãnh thổ của một quốc gia.
4 Luan van Quỹ đầu tư của chính quyền địa phương: Do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (UBND cấp tỉnh) thành lập và cấp vốn điều lệ để hoạt động. Tương tự Quỹ đầu tư của chính quyền trung ương, Qũy đầu tư chính quyền địa phương nhiệm vụ thực thi chính sách đầu tư để hỗ trợ chính quyền địa phương – nơi thành lập quỹ. Tín dụng đầu tư Căn cứ khoản 16 Điều 4 Luật số 47/2010/QH12 ngày 29/6/2010 Luật tổ chức tín dụng cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó Bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắt có hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại tín dụng đầu tư: Căn cứ vào nhu cầu và mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng mà có nhiều loại tín dụng khác nhau như: Căn cứ thời hạn cho vay: Có tín dụng ngắn hạn (thời hạn đến 01 năm), tín dụng trung hạn (thời hạn từ 01 đến 5 năm), tín dụng dài hạn (thời hạn trên 5 năm).
Căn cứ vào đối tượng cho vay: Có tín dụng vốn lưu động là các khoản tín dụng cấp cho các doanh nghiệp hay Công ty để hình thành các tài sản ngắn hạn như mua nguyên vật liệu, hàng tồn kho, trả thuế và chi trả lương….tín dụng vốn cố định là các khoản tín dụng đầu tư vào tài sản cố định dài hạn như tín dụng cấp cho các doanh nghiệp hay Công ty để mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất trong hoạt động sản xuất. Căn cứ mục đích sử dụng vốn: Có tín dụng cho vay sản xuất kinh doanh là khoản tín dụng cấp cho doanh nghiệp hay Công ty sử dụng vào mục đích kinh doanh kiếm lời. Tín dụng cho doanh nghiệp được gọi là tín dụng bán buôn vì những doanh nghiệp thường vay với những khoản vay có giá trị và tín dụng tiêu dùng là tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như phương tiện đi lại trang thiết bị trong nhà, cho vay du 5 Luan van học chữa bệnh và tín dụng tiêu dùng được gọi là tín dụng bán lẻ vì những cá nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ và vừa không lớn nên được xếp loại vào tín dụng bán lẻ vì những cá nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng. Căn cứ vào hình thức bảo đảm sẽ có tín dụng có bảo đảm và tín dụng không bảo đảm.
Căn cứ vào tín dụng hoàn trả có tín dụng hoàn trả nhiều lần và tín dụng hoàn trả một lần và tín dụng trả theo yêu cầu. Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng có giá trị tính dụng bằng tiền mà tín dụng là hình thái giá trị nó bằng tiền. Cho vay là hình thức tín dụng bằng tiền; chiết khấu cũng là hình thức tín dụng bằng tiền nhưng dưới hình thức mua bán giấy tờ có giá; tương tự bao thanh toán cũng là hình thức tín dụng bằng tiền với các khoản phải thu, phải trả. tín dụng bằng tài sản là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài sản.
Căn cứ xuất xứ tín dụng: tín dụng trực tiếp là hình thức tín dụng trong ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho khách hàng và tín dụng gián tiếp là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian như tín dụng ủy thác. tín dụng thông qua tổ chức đoàn thể. Theo Thông tư 49/2009/TT-BTC ngày 12/3/2009 hướng dẫn kế toán áp dụng đối với QĐTPT địa phương thì hoạt động tín dụng đầu tư tại QĐTPT địa phương thực hiện cho vay các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, đối tượng cho vay là các tổ chức, doanh nghiệp. Do đặc trưng đầu tư kết cấu hạ tầng đòi hỏi thời gian dài, vì vậy: Quỹ ĐTPT địa phương chỉ áp dụng cho vay trung hạn (thời hạn từ 01 đến 5 năm); căn cứ vào mục đích thì có tín dụng với mục đích cho vay sản xuất kinh doanh; Tín dụng vốn cố định; Tín dụng có đảm bảo; Tín dụng bằng uy tính; Tín dụng hoàn trả một lần; Tín dụng hoàn trả nhiều lần.
Rủi ro tín dụng Rủi ro từ phía Bên đi vay: - Khi Bên đi vay gặp khó khăn hoặc thất bại trong kinh doanh dẫn đến khả năng giảm sút hoặc mất nguồn thu, dẫn đến không thanh toán nợ đầy đủ và đúng hạn cho Quỹ. - Khi Bên vay sử dụng vốn không đúng mục nhằm chiếm dụng vốn của Quỹ Đầu tư sai mục đích; Vì vậy: không thanh toán được nợ cho Quỹ Đầu tư. - Khi Bên vay sử dụng tài sản bảo đảm là tài sản của Bên thứ ba dẫn đến kinh doanh thua lỗ tài sản bảo đảm khó bán thu hồi nợ. Rủi ro từ phía Bên cho vay: Trong quá trình thẩm định và quyết định cho vay, do bộ phận thẩm định không thu thập không đầy đủ thông tin của khách hàng và dự án vay vốn nên Quỹ Đầu tư đã chấp nhận cho vay với những khách hàng thiếu năng lực hoặc dự án cho vay khả năng không hiệu quả, dẫn đến việc thu hồ nợ không đầy đủ hoặc không đúng hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký.
- Do trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế hoặc do một số nguyên nhân làm cho cán bộ không chấp hành đúng quy định, quy chế, trình tự thẩm định về cho vay đối với những khách hàng và dự án không đủ điều kiện hoặc không hiệu quả dẫn đến hiệu quả rủi ro trong thu gốc và lãi. - Quy trình, quy định về kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ nên Quỹ Đầu tư không phát hiện ra các sai sót trong công tác thẩm định, quyết định cho vay và giải ngân, sau khi giải ngân ảnh hưởng đến thời gian thu gốc và lãi. Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó các tổ chức tín dụng là chủ nợ, mà khách hàng nợ không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của tổ chức tín dụng.
Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng, chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng. 7 Luan van Rủi ro từ các yếu tố khác: - Dự án cho vay đầu tư thường có thời gian vay vốn dài, trong thời gian vay vốn còn hiệu lực, sự thay đổi trong chính sách kinh tế của nhà nước hoặc ở tỉnh có thay đổi làm ảnh hưởng đến hoạt động của các dự án đầu tư, do đó khách hàng không trả được nợ. - Môi trường kinh tế của khu vực và trên thế giới có biếng động bất lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án mà Qũy ĐTPT cho vay vốn dự án hoạt động không hiệu quả dẫn đến việc thu nợ của Quỹ gặp khó khăn. - Những sự kiện bất khả kháng như thiên tai, dịch họa, dịch bệnh.làm ảnh hưởng đến hoạt động của các dự án Qũy ĐTPT cho vay, nguồn thu của dự án giảm sút nên kết quả thu nợ không thực hiện đúng theo HĐTD.
- Tài sản bảo đảm tiền vay các dự án chủ yếu là các tài sản hình thành từ tương lai, trên đất thuê của Nhà nước nên trong quá trình xử lý tài sản để thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn, tài sản dễ xuống cấp, giảm giá không bảo đảm. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD phân chia rủi ro giao dịch, và rủi ro danh mục. Phân loại Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch Rủi ro danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung (Nguồn:Theo Ngô hướng & ctg 2014). Quản lý rủi ro tín dụng 1.
Mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng Quản lý RRTD là quá trình sử dụng đồng bộ các hệ thống biện pháp nhằm giảm thiểu đến mức chấp nhận được với những tổn thất về tài sản, thu nhập do người vay vốn không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo điều khoản đã cam kết với Qũy ĐTPT. Rủi ro tín dụng không thể loại trừ, nó luôn gắn liền với hoạt động tín dụng của TCTD.