CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN LIEN QUAN DEN PHAP LUAT VE TO CHUC VA HOAT DONG CUA QUY DAU TU CHUNG KHOAN 1. Ly luận chung về Quỹ đầu tư chứng khoán 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán % Khái niệm về Quỹ dau tu chứng khoán Nơi mà tải sản chứng khoán được giao dịch, chuyển nhượng và đôi mã với mục đích tạo ra lợi nhuận là TTCK. Có hai hình thức tổ chức thi trường này: thị trường tập trung va thị trường phi tập trung.
Các giá tri giao dịch trên san được hình thành thông qua các thỏa thuận giữa các bên liên quan. TTCK đóng một vai trò quan trọng trong việc thu thập vốn dau tư cho nền kinh tế. Cũng như bắt kỳ hoạt động đầu tư, kinh doanh nào khác, đầu tư chứng khoán là “dau tư 1 lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thé thu hồi trong tương lai” [29. Điều này thể hiện tính rủi ro của hoạt động đầu tư trên TTCK.
Đề tiến hành đầu tư vào TTCK, NDT phải thực hiện việc phân tích kỹ càng từng ngành cụ thé, thiết lập danh sách đầu tư, và quản lý rủi ro một cách tỉ mi. Mục tiêu của họ là tối đa hóa lợi nhuận thông qua việc tối ưu hóa các chiến lược đầu tư. Đối với lĩnh vực chuyên môn phức tạp này, chỉ có những người đầu tư có kinh nghiệm chuyên nghiệp hoặc những chuyên gia tài chính thực sự có thé thực hiện tốt. Vấn đề này đặt ra thách thức về khả năng đầu tư, đặc biệt là khi phải cân nhắc giữa kiến thức và thời gian tham gia thị trường.
Giải pháp đã được tìm thấy thông qua việc hợp tác trong hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán. Điều nay đã dẫn đến sự ra đời của các QDTCK va CTĐTCK. NDT có nhiều lựa chọn khác nhau: họ có thé quyết định đầu tư trực tiếp thông qua các công ty chứng khoán với tư cách là NĐT cá nhân, hoặc ủy nhiệm đầu tư thông qua việc đầu tư vào các Quỹ chứng khoán được quản lý bởi các chuyên gia tài chính, có sự tổ chức. Như vậy, thay vì việc NDT đưa số vốn của họ vào mua bán trực tiếp các chứng khoán, họ có thé đóng góp vốn vào việc đầu tư tập thé thông qua các QDTCK.
Quỹ dau tư là một công cụ tài chính phổ biến và không phải là ngân hàng, thu hút nguồn vốn không sử dụng dé hoạt động ngân hàng từ nhiều nguồn khác nhau dé đầu tư vào các loại tài sản như cô phiếu, trai phiéu, tiền tệ và các loại tài sản khác. Quỹ dau tư là tô chức đầu tư chuyên nghiệp. Các Quỹ đầu tư, còn được hiểu là phương tiện đầu tư tập thé - là các cơ cấu tài chính nhằm phân bồ và quản lý tiền của nhiều người đầu tư dé mua chứng khoán được niêm yết hoặc cổ phan tư nhân trong các công ty cổ phan. Quỹ đầu tư tập hợp các khoản đầu tư cá nhân thành một khoản tiền lớn và đầu tư vào danh mục đầu tư được xác lập theo chính sách của quỹ [31, tr243].
Về bản chất, Quỹ dau tư 14 một tập hợp những khoản tiền vốn từ những người đầu tư được hình thành từ việc phát hành các chứng chỉ huy động vốn (CCQ đầu tư) để đầu tư vào các công cụ trên thị trường tài chính. QĐTCK thực chat là một tập hợp von do tô chức và cá nhân góp lại dé được quản lý nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư chứng khoán và tối đa hóa lợi nhuận cho người tham gia [33, tr9]. QDTCK là quỹ tiền hình thành từ vốn góp của các NDT dé đầu tư chủ yếu vào chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận [17]. Vốn có thé góp bằng tiền, bang chứng khoán, hoặc góp dưới dạng tài sản.
Tại Hoa Kỳ, các quỹ đầu tư được định danh là các tổ chức tài chính ngoại ngân hàng, hút vốn từ đa dạng các NĐT và thực hiện đầu tư số vốn này vào các tài sản tài chính có khả năng chuyền đổi nhanh thành tiền mặt cùng các công cụ trong thị trường tài chính. Ở Vương quốc Anh, quỹ đầu tư được coi là mọi dạng tài sản hoặc hình thái tài sản khác nhau, với mục tiêu cho phép các tham gia viên hưởng lợi hoặc nhận lợi ích phát sinh từ việc mua, nắm giữ, quản lý hoặc xử lý các tài sản cũng như tiền mặt phát sinh từ lợi nhuận hoặc thu nhập này. Tại Nhật Bản, quỹ đầu tư được hiểu là một tạo phẩm hình thành với mục đích đầu tư số tiền mà nhiều NDT đóng góp vào cô phiếu (cả cô phiếu và trái phiếu) trong một sự quản lý do người không phải là NDT đảm nhiệm, và lợi nhuận từ các khoản đầu tư được phân phối cho các NDT theo tỷ lệ vốn mà họ đã góp vào quỹ. Đối với Việt Nam, khái niệm QĐTCK lần đầu tiên được quy định trong Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về chứng khoán và TTCK.
Theo quy định của Nghị định này, QDTCK được hiểu là một quỹ được hình thành từ vốn góp của các NDT, được giao cho CTQLQ dé thực hiện đầu tư, trong đó tối thiêu 60% giá trị tài sản của quỹ được đầu tư vào chứng khoán. Những quy định này đã đánh dấu sự khởi đầu và phát triển mô hình QĐTCK tại Việt Nam. Luật chứng khoán 2006 và mới nhất là Luật chứng khoán 2019 đã áp đặt những quy định chỉ tiết và toàn diện hơn về QDTCK. Theo đó, theo quy định của Luật chứng khoán, QDTCK được định nghĩa là một hình thức quỹ được hình thành từ sự đóng góp vốn của các NDT với mục tiêu tao ra lợi nhuận thông qua việc đầu tư vào chứng khoán và các loại tài sản đầu tư khác, bao gồm cả bất động sản.
Trong khung quan lý này, NDT không tham gia vào quá trình ra quyết định đầu tư hàng ngày của quỹ. Qua những quy định này, Luật chứng khoán không chỉ xác định QDTCK dưới dạng mô hình hợp dong tín thác đầu tư, mà còn cho phép mô hình công ty đầu tư chứng khoán. Mô hình QĐTCK có thé có dang hợp đồng hoặc công ty, và có thê tổ chức đưới dạng Quỹ Mở hoặc Quỹ Thành Viên. Tất cả những điều này tạo cơ hội thuận lợi để phát triển mô hình QDTCK, trong bối cảnh TTCK Việt Nam đang trải qua sự điều chỉnh liên quan đến một hướng hiện đại và chuyên nghiệp hơn.
Tóm lại, hiểu theo góc nhìn chiều sâu, QDTCK không chỉ đơn thuần là một cụm đầu tư hoặc một công ty, mà là một tập hợp các nguồn vốn đa dạng, hình thành với sự góp vốn từ các NDT, nhằm nâng cao sự chuyên nghiệp trong quan lý và đầu tư chứng khoán, với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường. % Đặc điểm của Quỹ dau tư chứng khoán Đặc điểm của QDTCK là những dau hiệu thé hiện ban chất của QDTCK, đây cũng là nhưng tiêu chí dé phân biệt QĐTCK với các Quỹ đầu tư khác và với các chủ thé kinh doanh. Dưới đây sẽ là nhưng điểm sẽ chi phối sự điều chỉnh của pháp luật đối với QDTCK: Một là, Quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện hai vai trò quan trọng: một là làm chủ thể phát hành chứng khoán, và hai là làm chủ thể đầu tư vào chứng khoán Là chủ thể phát hành chứng khoán, QĐTCK hình thành dựa trên nguồn vốn mà NDT đóng góp thông qua việc phát hành cô phiếu hoặc CCQ. Các CCQ được phát hành bởi quản lý quỹ dé thu hút sự quan tâm của các NDT.
Những người sở hữu CCQ trở thành những người đã đóng góp vốn vào QDTCK. Trong tư cách là chủ thể dau tư vào chứng khoán, QDTCK khác biệt với các đơn vị phát hành cổ phiếu và trái phiếu. QDTCK không sử dung CCQ dé huy động vốn dé thực hiện các hoạt động kinh doanh hàng hóa hay dịch vu, mà tập trung chủ yếu vào việc đầu tư vào các loại chứng khoán. Lợi nhuận cho các NĐT được tạo ra từ hoạt động đầu tư chứng khoán của QĐTCK thông qua CCQ.
Do đó, QĐTCK được xem như một dạng NĐT có tô chức hoặc NDT chứng khoán chuyên nghiệp, tức là những người đầu tư thực hiện theo các danh mục đầu tư, sử dụng các chiến lược đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm. Hai là, Việc đầu tư thông qua Quỹ dau tư chứng khoán đại diện cho một hình thức đầu tư gián tiếp, với mục tiêu hoạt động tương tự như doanh nghiệp, đều hướng đến mục đích sinh lời Đầu tư là việc sử dụng một khoản tiền tích lũy nhất định vào một việc nhất định nhằm mục đích thu lại một khoản tiền lớn hơn. Mục tiêu thông thường của đầu tư, nhất là của các NDT tư nhân là sử dụng đồng tiền nhằm sinh ra lợi nhuận. Đầu tư gián tiếp thể hiện ở chỗ các chủ thé thừa vốn không trực tiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn là người sử dụng vốn cuối cùng, mà là gián tiếp thông qua các trung gian tài chính [28, tr45].
Bằng việc phát hành cô phiếu hoặc CCQ, QĐTCK thu thập vốn từ các NDT. Sau đó, số tiền này được QĐTCK sử dụng dé đầu tư vào các loại chứng khoán. Lãi lớn từ hoạt động dau tư chứng khoán sẽ được chia sẻ giữa các NDT. Nhu vậy, mục đích thiết lập và hoạt động của QĐTCK tương tự như một tô chức kinh doanh, tức là hướng đến việc tìm kiếm lợi nhuận.
Ba là, cơ chế tách bạch giữa quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán và nắm giữ tài sản, giám sát hoạt động quản lý Quỹ dau tư chứng khoán trong tổ chức và hoạt động của Quỹ dau tư chứng khoán Quỹ đầu tư hoạt động theo cơ chế gồm 3 thành phần: Người đầu tư góp vốn hình thành quỹ; CTQLQ điều hành quỹ; NHGS bảo quan tài sản và giám sát hoạt động của quỹ [27, tr233]. NDT thực hiện đóng góp vốn vào QDTCK và hưởng lợi từ hoạt động đầu tu của quỹ. Trách nhiệm quản lý QDTCK được ủy thác cho CTQLQ. CTQLQ là một tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, với nền tang kiến thức sâu rộ và kinh nghiệm cao, thực hiện việc quản lý và thực hiện các hoạt động của QDTCK.
Ngân hàng có trách nhiệm giám sát, bao quản tài sản của QĐTCK, dam bảo rằng tài sản được quản lý độc lập với CTQLQ, và cũng thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động của CTQLQ liên quan đến QDTCK, nhằm bảo vệ lợi ích của NDT.