Chương 1 giới thiệu chung về đề tài, tác giả sẽ đưa ra cơ sở lý luận của bài viết và nhìn lại tổng quan tình hình nghiên cứu về sự tác động của đại dịch đến thị trường tài chính nói chung, và nhóm cổ phiếu ngân hàng nói riêng ở Chương 2. Chương 3 tập trung đi sâu vào phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu của bài luận. Chương 4 sẽ trình bày và diễn giải kết quả nghiên cứu mà tác giả đã đạt được. Cuối cùng, tác giả đưa ra những nhận định, kết luận chung ở Chương 5, từ đó đề xuất một vài khuyến nghị đối với nhà đầu tư.
Đồng thời, tác giả cũng nhìn nhận một số thiếu sót của nghiên cứu trong định hướng nghiên cứu cũng như phương pháp tiến hành, và đặt ra những định hướng nghiên cứu trong tương lai, khi tác động của đại dịch vẫn diễn ra phức tạp trong thời gian tới. Luan van 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Giá trị thị trường của cổ phiếu Trước khi đi sâu vào lý luận về sự biến động giá cổ phiếu, bài viết nêu lại định nghĩa khái quát về cổ phiếu và giá cổ phiếu.
Theo Khoản 2 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019, cổ phiếu được định nghĩa như sau: “Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.” (Luật chứng khoán 2019) Giá trị thị thường của một cổ phiếu, hay giá cổ phiếu, là mức giá của cổ phiếu đó được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Giá cổ phiếu, do vậy, được quyết định bởi lượng cung cầu của nó trên thị trường. Giá cổ phiếu biến động liên tục trong một phiên giao dịch của thị trường, có thể chênh lệch so với giá trị thực của cổ phiếu, và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như sự phát triển kinh tế, chính sách của Nhà nước, tâm lý của nhà đầu tư.
Các học thuyết về giá cổ phiếu 2. Lý thuyết thị trường hiệu quả Sự biến động của giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán luôn là một đề tài nghiên cứu được các nhà khoa học quan tâm. Một trong những lý thuyết nổi tiếng được coi là kinh điển về vấn đề này là lý thuyết thị trường hiệu quả, được đưa ra bởi nhà kinh tế học Eugene F. Mặc dù có nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh lý thuyết này, mức độ ảnh hưởng của nó đến các học thuyết sau này là không thể phủ nhận.
Theo Fama, thị trường được coi là đạt trạng thái hiệu quả khi và chỉ khi giá cả của tất cả các tài sản tài chính giao dịch trên thị trường đó phản ánh một cách kịp thời và đầy đủ các thông tin về chúng (Fama 1970). Luan van 7 Trong bài nghiên cứu của mình, Fama đã đưa ra ba dạng kiểm định thị trường hiệu quả: dạng yếu, dạng trung bình, và dạng mạnh, sử dụng ba tệp thông tin (Fama 1970). Cụ thể, thị trường được coi là hiệu quả dạng yếu là khi giá của tài sản tài chính phản ánh các thông tin về thị trường, lịch sử giá và lợi suất của tài sản trên thị trường đó (Fama 1970). Kiểm định thị trường hiệu quả dạng trung bình mở rộng đề cập đến các thông tin công khai, đại chúng khác như việc doanh nghiệp phát hành mới cổ phiếu, chia tách cổ phiếu (Fama 1970).
Cuối cùng, kiểm định thị trường hiệu quả dạng mạnh nghiên cứu sự thay đổi giá cổ phiếu theo tất cả các tệp thông tin, bao gồm cả những thông tin bí mật mà số ít các nhà đầu tư có thể tiếp cận (Fama 1970). Từ đó, Fama đưa ra kết luận rằng thị trường hiệu quả ở dạng yếu và dạng trung bình, và giả thuyết thị trường hiệu quả ở dạng mạnh được xem như tiêu chuẩn để đánh giá sự độc quyền thông tin của một nhóm nhỏ trên thị trường, như các chuyên gia trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn hoặc các nhà điều hành doanh nghiệp (Fama 1970). Lý thuyết thị trường hiệu quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với và các nhà đầu tư và bản thân các doanh nghiệp. Khi tất cả thông tin liên quan đều được phản ánh hết vào giá cổ phiếu, thì cung cầu của chứng khoán luôn ở trạng thái cân bằng.
Lợi suất kỳ vọng của giá cổ phiếu chỉ dựa vào một yếu tố duy nhất là rủi ro, không có lợi suất phụ trội. Giá của cổ phiếu trên thị trường sẽ bằng giá trị thực của nó. Các nhà đầu tư sẽ không thể dựa vào phân tích kỹ thuật hay thông tin bí mật để đầu cơ, mua bán chênh lệch. Doanh nghiệp sẽ chỉ phát hành cổ phiếu khi thực sự cần huy động vốn.
Vì ý nghĩa của nó, lý thuyết thị trường hiệu quả từ khi ra đời đã trở thành một lý thuyết mang tính nền tảng trong kinh tế học, liên tục được kiểm định trên nhiều thị trường chứng khoán bởi các nhà nghiên cứu, và cũng gặp phải những ý kiến không thống nhất từ nhiều kinh tế học nổi tiếng, điển hình là Richard H. Thaler với lý thuyết tài chính hành vi. Lý thuyết tài chính hành vi Lý thuyết tài chính hành vi của Richard H. Thaler được coi là đối trọng với lý thuyết thị trường hiệu quả của Eugene F.
Dựa trên nền tảng của học thuyết “Cú Luan van 8 hích” (Thaler và Sunstein 2008), Thaler đã đặt nền móng cho lý thuyết tài chính hành vi khi kết hợp các hiểu biết về tâm lý học hành vi vào lĩnh vực kinh tế - tài chính. Bằng việc đi sâu nghiên cứu khía cạnh tâm lý của các nhà đầu tư, Thaler đưa ra nhận định rằng con người không phải lúc nào cũng lý trí, và chính sự chủ quan, không lý trí của con người đã dẫn đến những quyết định sai lầm trong đầu tư tài chính (Thaler 2015). Quan điểm thách thức lý thuyết thị trường hiệu quả của Thaler được phân tích sâu hơn trong cuốn sách về tài chính hành vi của ông, “Advances in Behavioral Finance, Volume II” (Thaler 2005). Cuốn sách tập trung vào các “bất thường” trên thị trường tài chính, điển hình là việc các cổ phiếu giá trị có xu hướng đem lại lợi suất cao hơn các cổ phiếu “ngôi sao”, hay cổ phiếu được ưa chuộng trên thị trường (Thaler 2005, tr.
Phân tích cụ thể về lý thuyết thị trường hiệu quả, Thaler cho rằng, lý thuyết thị trường hiệu quả dựa trên một giả thiết khó xảy ra, đó là sự tồn tại của các nhà đầu tư chênh lệch giá đa dạng hóa danh mục, và họ sẽ triệt tiêu ngay các cơ hội mua bán chênh lệch xuất hiện trên thị trường (Thaler 2005, tr. Thaler đưa ra cách tiếp cận vấn đề bằng việc xem xét tâm lý nhà đầu tư và chi phí của việc đầu tư chênh lệch giá (Thaler 2005, tr. Thaler lập luận rằng các nhà đầu tư chênh lệch giá thường chỉ tập trung vào một nhóm ngành nhất định, và lợi suất từ đầu tư chênh lệch giá ngắn hạn thường biến động lớn khiến các nhà đầu tư có xu hướng né tránh (Thaler 2005, tr. Bên cạnh đó, theo Thaler, trong những tình huống cực đoan, việc các nhà đầu tư chênh lệch giá cố gắng xóa bỏ sự định giá sai các cổ phiếu có thể khiến họ mất tiền để thanh lý vị thế của họ (Thaler 2005, tr.
Cụ thể, Thaler dẫn chứng cổ phiếu NHTM các năm 1990 và 1991. Các nhà đầu tư chênh lệch giá truyền thống đã đầu tư mạnh vào các cổ phiếu này khi giá xuống, và họ mất phần lớn vốn khi giá tiếp tục giảm mạnh. Cuối cùng, cổ phiếu ngân hàng đã có lợi suất rất cao, nhưng các nhà đầu tư này đã phải thanh lý vị thế của mình, và không thể trụ vững đủ lâu để đạt được mức lợi suất cao đó (Thaler 2005, tr. Một dẫn chứng khác cho việc thị trường không hiệu quả được Thaler đưa ra là bong bóng Internet, hay còn gọi là bong bóng dot-com vào những năm 1998-2000.
Công ty Palm Inc. đã thực hiện IPO vào thời điểm cuối của bong bóng này, với mức Luan van 9 giá cao hơn giá trị thực. Lý thuyết thị trường hiệu quả hàm ý rằng các nhà đầu tư chênh lệch giá sẽ thực hiện bán khống để đẩy giá cổ phiếu trên thị trường xuống mức cân bằng, tuy nhiên điều này đã không xảy ra. Theo Thaler, dù có nhiều nhà đầu tư nhận định rằng cổ phiếu của Palm đang bị định giá cao, có rất ít nhà đầu tư lựa chọn hình thức bán khống, do chi phí hoặc do các điều kiện khác, việc này thể hiện sự không phản ánh đầy đủ và kịp thời thông tin vào giá cổ phiếu, tức thị trường không hiệu quả (Thaler 2005, tr.
Tuy vậy, không thể nói lý thuyết tài chính hành vi đối nghịch hoàn toàn với lý thuyết thị trường hiệu quả. Điều này đã được giải thích bởi Thaler (Thaler 2016). Cụ thể, trong một buổi tranh luận giữa Fama và Thaler được thực hiện bởi Chicago Booth Review, “Are markets efficient?”, Thaler đã nói về vai trò của hướng tiếp cận hành vi đối với kinh tế học như một cầu nối giữa lý thuyết và ứng dụng trong thực tiễn: “It’s not going to be like the Copernican Revolution, where having the Earth in the middle was clearly wrong, and having the Sun in the middle was right. It’s going to be more like engineering.
Physics, in its pure form with lots of assumptions, doesn’t build good bridges. You need engineering. That’s what the behavioral approach to economics is” (Thaler 2016). Lý thuyết định giá cổ phiếu Từ các lý thuyết nền tảng về giá cổ phiếu, tác giả tiếp tục đề cập đến lý thuyết định giá cổ phiếu bằng mô hình chiết khấu cổ tức.
Theo đó, giá trị cổ phiếu bằng giá trị hiện tại của dòng tiền mà cổ đông kỳ vọng nhận được khi nắm giữ cổ phiếu, và tương đương với giá trị hiện tại của tất cả các dòng cổ tức trong tương lai. Ta có công thức như sau: Dt+1 Dt+2 Dt+n Pt = + +…+ +… 1+k (1 + k)2 (1 + k)n Trong đó: P: giá trị của cổ phiếu; D: dòng tiền cổ tức; k: tỷ suất chiếu khấu; Luan van 10 Dựa trên các dự báo về tốc độ tăng trưởng cổ tức trong tương lai, các nhà hoa khoa học đã xây dựng mô hình tăng trưởng cổ tức qua nhiều giai đoạn.