CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Minh bạch TTTC là vấn đề đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu với nhiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều cấp độ ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Để có một cái nhìn toàn cảnh về những nghiên cứu có liên quan, luận văn lựa chọn và giới thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến vấn đề này, qua đó sẽ rút ra khe hổng nghiên cứu.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài liên quan 1.1 Nội dung các nghiên cứu trước Nếu xét về nội dung các nghiên cứu liên quan đến việc tìm các nhân tố tạo ra sự minh bạch thông tin của các CTNY thì chủ yếu các nghiên cứu trên thế giới trước đây nghiên cứu dựa trên 2 nhóm nhân tố là minh bạch TTTC và minh bạch thông tin quản trị. Điển hình một số nghiên cứu cụ thể như: Nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001) để trả lời cho câu hỏi: Liệu rằng có sự khác nhau hay không giữa chế độ pháp luật cũng như đặc điểm nền kinh tế chính trị của từng quốc gia đối với sự minh bạch của TTTC.
Nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát các CTNY trên 41 đến 46 quốc gia. Trong đó tính minh bạch của TTTC được nhóm tác giả đo lường thông qua 5 nhóm nhân tố là: (1) Mức độ công bố TTTC, (2) Mức độ công bố thông tin (CBTT) quản trị công ty (QTCT), (3) Các nguyên tắc kế toán, (4) Thời gian công bố BCTC, (5) Chất lượng kiểm toán các BCTC được công bố. Kết quả kiểm định hồi quy đa biến cho thấy cơ chế pháp lý ảnh hưởng trực tiếp đến minh bạch trong QTCT còn minh bạch TTTC phần lớn liên quan đến chính sách kế toán và quy mô doanh nghiệp. Nghiên cứu của nhóm tác giả đã thành công trong việc tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin và các thước đo để đo lường tính minh bạch thông tin tuy nhiên nhóm tác giả chưa chỉ ra được mức độ tác động giữa các nhân tố đến tính minh bạch thông tin.
Cũng với hướng nghiên cứu như trên, nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) đã xem xét tính minh bạch của các CTNY trên cả 2 thị trường là Thái Land và Hồng Kông theo 2 nhóm trong đó nhóm nhân tố tài chính bao gồm 5 123doc 8 biến: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo và hiệu quả sử dụng tài sản. Nhóm nhân tố về QTCT bao gồm 3 biến: mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu của HĐQT và quy mô của HĐQT. Mẫu khảo sát bao gổm 413 CTNY trong đó 265 CTNY trên TTCK Thái Land và 148 CTNY trên TTCK Hồng Kông. Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Thái Land mức độ công bố và tính minh bạch thông tin nhiều hơn so với các công ty ở Hồng Kông.
Riêng các nhân tố: quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản, giá trị tài sản đảm bảo và khả năng sinh lợi dài hạn của doanh nghiệp thuộc nhóm nhân tố tài chính thì lại ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ công khai thông tin của các CTNY ở Hồng Kông, nhưng lại không ảnh hưởng đến các công ty ở Thái Land. Ngược lại nhân tố quy mô và cơ cấu HĐQT lại ảnh hưởng đến mức độ CBTT ở Thái Land nhưng lại không ảnh hưởng đến mức độ CBTT ở Hồng Kông. Đối với biến “tỷ lệ các giám đốc điều hành không phải là thành viên của HĐQT” thì giống nhau ở cả 2 thị trường Thái Land và Hồng Kông đó là nếu tỷ lệ của biến này càng lớn thì tính minh bạch và mức độ CBTT của các CTNY sẽ càng cao. Nghiên cứu của nhóm tác giả đã thành công khi so sánh được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố về minh bạch TTTC giữa 2 TTCK Thái Land và Hồng Kông cũng như chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố đến tính minh bạch TTTC, hạn chế của nghiên cứu là chưa tìm được nguyên nhân để lý giải cho các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm.
Ngoài ra nếu xét đến khía cạnh nghiên cứu về ảnh hưởng của minh bạch thông tin ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư thì đi theo trình tự thời gian có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới mà chúng ta có thể thấy như: Theo Carolyn Streuly (1994) với mục đích tìm kiếm mối quan hệ giữa thông tin trên BCTC với quyết định của nhà đầu tư. Tác giả đã tiến hành khảo sát trên mẫu ngẫu nhiên của 1.300 các chuyên gia phân tích tài chính ở Mỹ. Kết quả cho thấy 53% số người được hỏi đồng ý các thông tin được công bố trong báo cáo hàng năm là đủ cơ sở để họ đưa ra các quyết định đầu tư. Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra được tính hữu dụng của BCTC thông qua việc đánh giá nội dung và tính rõ ràng 123doc 9 dựa trên thuyết minh BCTC làm cơ sở để nhà đầu tư đưa ra quyết định cũng như cung cấp các thông tin khác cho các đối tượng có liên quan như: ngân hàng, chủ nợ… Năm 2006, Hsiu JF trong nghiên cứu “Effect of financial information transparency on investor behavior in Taiwan stock market, ProQuest Database” , tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và hành vi nhà đầu tư đồng thời xem xét lý thuyết QTCT, hiệu quả hoạt động, hành vi thương mại nhà đầu tư, quyết định của nhà đầu tư để từ đó đưa ra giải pháp góp phần gia tăng niềm tin nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan.
Mô hình nghiên cứu của tác giả đề xuất bao gồm ba biến độc lập là: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ tác động đến một biến phục thuộc là hành vi nhà đầu tư. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dùng công cụ khảo sát bảng 20 câu hỏi, với thang đo Likert 9 điểm để đo lường nhận thức của nhà đầu tư về các yếu tố minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan. Thông qua các kỹ thuật phân tích dữ liệu như thống kê mô tả, độ tin cậy Cronbach’s Anpha, hệ số tương quan, ANOVA, hồi quy đa biến trên mẫu 305 nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy: cả ba biến thuộc về minh bạch TTTC bao gồm: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ có tương quan tích cực đối với hành vi nhà đầu tư, trong đó biến cấu trúc hoạt động HĐQT có ảnh hưởng mạnh nhất. Ngoài ra tác giả cũng cho rằng nếu công ty muốn thiết lập một mối quan hệ dài hạn với nhà đầu tư thì công ty nên cung cấp nhiều thông tin liên quan tới cấu trúc HĐQT, quy trình tiến hành họp hội đồng cho các nhà đầu tư biết.
Bên cạnh đó khi tiến hành kiểm định các đặc điểm về nhân khẩu học đối với nhận thức của nhà đầu tư về các yếu tố minh bạch TTTC, tác giả cho thấy có sự khác biệt theo giới tính, thu nhập, trong khi đó không có sự khác biệt giữa độ tuổi đối với hành vi nhà đầu tư. Cụ thể, nhà đầu tư nữ có quan tâm nhiều về minh bạch TTTC hơn so với nhà đầu tư nam, đặc biệt là cấu trúc hoạt động HĐQT và CBTT 123doc 10 tài chính. Đồng thời, hành vi của nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan không có sự khác biệt theo số năm kinh nghiệm. Năm 2014, Torabi R và Aali A trong nghiên cứu “Effect of financial information transparency on investor behavior in Tehran stock exchange”.
Bằng cách sử dụng bảng câu hỏi khảo sát bao gồm 2 phần. Phần 1 bao gồm 14 câu hỏi, thang đo Likert 7 cấp độ để điều tra về tính minh bạch của TTTC và hành vi của nhà đầu tư trên sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) Tehran. Phần 2 bao gồm các câu hỏi liên quan đến vấn đề nhân khẩu học của nhà đầu tư như: giới tính, tuổi tác, giáo dục. Mô hình nghiên cứu mà tác giả đề xuất bắt nguồn từ mô hình nghiên cứu của Hsiu JF (2006), trong mô hình tác giả đề xuất bao gồm ba biến độc lập là: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ tác động đến một biến phục thuộc là hành vi nhà đầu tư.
Các câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu của tác giả tương tự các câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu của Hsiu JF (2006) thời gian nghiên cứu từ 01/01/2013 đến 21/05/2014. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cũng đưa ra được bằng chứng cho thấy có mối liên quan ở cả ba khía cạnh của tính minh bạch là: công bố TTTC; cơ cấu sở hữu vốn; cơ cấu HĐQT đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK Tehran, trong đó mối quan hệ giữa CBTT tài chính và hành vi nhà đầu tư có sự tương quan cao nhất. Nhận thức của các nhà đầu tư trong những khía cạnh của tính minh bạch phụ thuộc trên các biến nhân khẩu học là khác nhau. Bên cạnh đó nhóm tác giả cũng đưa ra các kiến nghị hữu ích cho chủ đầu tư để điều chỉnh hành vi của mình theo các điều kiện TTCK.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngoài Bằng cách kế thừa và phát huy các nghiên cứu trước, càng về sau các nghiên cứu trên thế giới ngày càng hoàn thiện hơn cả về mặt nội dung lẫn ý nghĩa, thông qua các bằng chứng thực nghiệm, các kết luận đưa ra ngày càng có giá trị.
Nhìn chung, các nghiên cứu ở nước ngoài có những đặc điểm như sau: (1) Đi cùng với thời gian nghiên cứu thì phạm vi của nghiên cứu cũng thay đổi không chỉ bó hẹp ở một quốc gia cụ thể như Mỹ (Carolyn Streuly, 1994) mà 123doc 11 thay vào đó nó được mở rộng ra nhiều quốc gia như nghiên cứu Robert Bushman (2001) hay xuyên quốc gia như nghiên cứu của Cheung (2005) thực hiện tại Hồng Kông và Thái Land. (2) Đa số các nghiên cứu đi trước là những nghiên cứu khởi xướng nhằm đưa ra một số nhân tố để đánh giá mức độ minh bạch và ảnh hưởng của các nhân tố đó đến hành vi của nhà đầu tư, tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo.