MỞ ĐẦU 1. Ly do lựa chọn đề tài Thị trường chứng khoán (TTCK) được xem nguồn gốc hay là chất xúc tac cho tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia khác nhau. Không chỉ tạo điều kiện phân bồ nguồn vốn hiệu quả, TTCK còn cung cấp một kênh đầu tư hấp dẫn cho cả đầu tư trong và ngoài nước (Rudra P. Tính đến nay, từ một trung tâm giao dịch chứng khoán có 2 doanh nghiệp niêm yết, TTCKVN đã có hơn 1.600 doanh nghiệp niêm yết và đăng ký giao dịch trên 2 sở giao dịch với giá trị vốn hoá trên 4 triệu tỷ đồng, tương đương với 65% GDP.
Vi tính chất nhạy cảm của giá chứng khoán, nên đây là một trong những tiêu chí tiêu chí được lựa chọn khi xem xét hiệu quả sự phát triển kinh tế đối với một quốc gia. Bất cứ sự thay đổi tích cực hay tiêu cực trong CSCK, không chỉ tác động từ yếu tố tâm lý mà còn có sự tác động bởi các chính sách của nhà nước và các biến số kinh tế vĩ mô của nền kinh tế (Trần Huy Hoàng (2017)). Từ đầu năm 2020 đến nay, tình hình kinh tế và chính trị trên thế giới có những diễn biến phức tạp và khó lường. Cạnh tranh giữa các nước lớn cảng ngày càng quyết liệt, tranh giành tài nguyên ở một số khu vực ngày càng gay gat hơn, lạm phát cao, tỷ giá hối đoái biến động mạnh, rủi ro tài chính - tiền tệ gia tăng, tác động rất lớn đến TTCK trên toàn thé giới.
Dai dịch COVID-19 diễn biến hết sức phức tạp, buộc chính phủ các nước phải thực hiện nhiều biện pháp hỗ trợ kinh tế, nhưng điều này lại là nguyên nhân làm cho lạm phát tăng mạnh ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều nền kinh tế phải tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ với nhịp độ nhanh. Tính trong năm 2022, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã thực hiện 6 lần điều chỉnh lãi suất, tăng lãi suất điều hành thêm 3,75 điểm %, trong đó có 4 lần liên tiếp tăng 0.75 điểm %, mức tăng mạnh nhất từ năm 1994. Ngân hang Trung ương Anh cũng thực hiện điều chỉnh lãi suất tăng 7 lần liên tiếp ké từ 12/2021 lên mức 2,25%. Trong bối cảnh đó lạm phát gia tăng trong khu vực, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng thực hiện điều chỉnh lãi suất tăng 3 lần trong năm 2022.
Động thái thắt chặt chính sách tiền tệ trên thế giới đang làm day lên lo ngại về rủi ro “suy thoái — lạm phat” ở một số quốc gia. Song song với đó, xung đột Nga — Ukraine, căng thăng giữa các nước lớn và chiến lược Zeo- Covid của Trung Quốc tiếp tục tiếp diễn đã làm trầm trọng tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, giá cả lương thực, năng lượng theo đó tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí của các doanh nghiệp và từ đó gia tăng áp lực lam phát. Trong bối cảnh đó, TTCK trên thế giới cũng liên tục biến động. Theo thống 1 kê, tính đến ngày 31/10/2022, chỉ số chứng khoán toàn cầu MSCI ACWI đã giảm 21,98%, các chỉ số khác như: chỉ số CAC 40 của Pháp, chỉ số DAX của Đức, chỉ số KOSPI của Hàn Quốc, chỉ số Shang Hai của Trung Quốc, chỉ số Hang Seng của Hồng Kông, chỉ số S&P500 của Mỹ lần lượt giảm với mức giảm cao nhất là 36,48% so với năm 2021.
Trước hàng loạt những biến động bat lợi của tình hình kinh tế đó trong năm 2022, chỉ số VN-Index của Việt Nam đã giảm 33%, giảm gần 522 điểm so với phiên đỉnh cao hồi đầu năm (-52%) khép lại một năm đáng buồn của nền kinh tế. Nhà kinh tế trưởng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Pierre Olivier Gourinchas đã nhận định rằng những biến động này sẽ tiếp tục diễn ra phức tạp trong tương lai và tình hình hình kinh tế chính trị toàn cầu vào năm 2023 sẽ rất khó khăn. Suy thoái và tổn hại kinh tế là không thể tránh khỏi. Chính vì vậy nghiên cứu về tác động của các nhân t6 kinh tế vĩ mô đến tình hình kinh tế nói chung và ảnh hưởng đến TTCK nói riêng là vô cùng quan trọng.
Nghiên cứu sẽ cung cấp thêm những thông tin về độ lớn hay chiều hướng tác động của biến số vĩ mô hưởng đến giá cả trên TTCK, từ đó là cơ sở dé các nhà đầu tư có thêm thông tin cho việc ra quyết định của mình. Đây cũng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo, củng cố thêm các bằng chứng thực nghiệm để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những giải pháp phát triển TTCK 6n định phù hợp với tình hình kinh tế trong hiện tại và tương lai. Mục tiêu nghiên cứu Phân tích tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến TTCK ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số chính sách phù hợp, phát triển TTCK 6n định phù hợp với tình hình kinh tế trong hiện tại và tương lai. Câu hỏi nghiên cứu Đề dat được mục tiêu dé ra, chuyên đề được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi cụ thé sau: 1.
Sự phát triển của TTCK tại Việt Nam diễn ra như thế nào? 2. Cơ chế tác động của các nhân tô kinh tế vĩ mô bao gồm: lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, Tốc độ tăng chỉ số phát triển công nghiệp, cung tiền, giá vàng và giá dầu thế giới ảnh hưởng đến thị TTCKVN như thế nào? 3. Những chính sách nao nên được thực hiện dé phát triển TTCK ổn định phù hợp với tình hình kinh tế? 1. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu này sử dụng 7 biến số vĩ mô bao gồm tỷ lệ lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, Tốc độ tăng chỉ số phát triển công nghiệp, cung tiền, giá dầu và giá vàng thế giới để kiêm tra tác động đến chỉ số chứng khoán đại diện là số liệu VN- Index của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Phân tích tác động của các nhân tó vĩ mô ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán VN-Index trên San giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Về thời gian: Bài nghiên cứu sử dụng số liệu với tần suất theo tháng được thu thập trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2012 đến hết tháng 12 năm 2022. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết thị trường hiệu quả Giả thuyết thị trường hiệu quả (EHM) của Fama (1965, 1970) cho rằng giá cô phiếu phản ánh đầy đủ tất cả các thông tin có sẵn, lợi nhuận bất thường không thé được tạo ra bất kê chiến lược đầu tư được sử dụng là gi.
Điều này có thé được thé hiện qua biểu thức: O¿ = OD (1) Trong do: Q¢*: Tập hợp thông tin liên quan có sẵn cho các nhà dau tư tai thời điểm t. Qt: Tap hợp thông tin được sử dụng dé định giá cổ phiếu tại thời điểm t. Sự tương đương của hai mặt này có nghĩa là thị trường hiệu quả (Alshogeathri 2011). Giả thuyết thị trường hiệu quả có thé được phân biệt thành ba dạng: (1) yếu, (2) bán mạnh và (3) hiệu quả thị trường mạnh.
Dạng yếu có nghĩa là giá cô phiếu hiện tại kết hợp tat cả các thông tin quá khứ có liên quan. Dạng bán mạnh nói rằng giá cô phiếu hiện tại phản ánh đầy đủ tất cả các thông tin công khai có sẵn như giá cô phiếu trong quá khứ, công ty đang hoạt động như thế nào, kỳ vọng về các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng như thông tin công khai về GDP, cung tiền và lãi suất. Cuối cùng, dạng mạnh nói rằng ngoài thông tin quá khứ và thông tin công khai, giá cổ phiếu cũng phản ánh thông tin cá nhân về công ty cụ thể (Alshogeathri 2011). Một thị trường hiệu quả, từ quan điểm kinh tế, sẽ hỗ trợ việc phân bồ các nguồn lực kinh tế.
Nghia là, nếu cô phiếu của một công ty tài chính kém được định giá không chính xác, khoản tiết kiệm mới sẽ không được sử dụng trong ngành tài chính kém. Do đó, theo giả thuyết thị trường hiệu quả, mức độ dao động hoặc biến động của giá cổ phiếu sẽ phản ánh một cách công bằng các nguyên tắc kinh tế cơ bản (Alshogeathri 2011). Mô hình chiết khẩu cổ tức Mô hình chiết khấu cô tức (DDM) có thé bắt nguồn từ các tác phẩm nổi tiếng của Williams (1938) và Gordon và Shapiro (1956). Đây được coi là nỗ lực dau tiên nhăm tim ra một công thức định gia chính xác vê mặt tài chính cho các 4 cô phiếu thường.
Mô hình này sử dụng tỷ lệ phản ánh mức độ rủi ro của một công ty dé có được giá của một cô phiếu phổ thông bang cách chiết khẩu tat ca cô tức trong tương lai trên mỗi cổ phiếu (Agosto, Mainini và Moretto 2019). Mô hình chiết khẩu cô tức ước tính giá trị của một cô phiếu phô thông tại thời điểm t như sau: oo Et[pi] Et [Pt] = 2¡Š:+1 (1+rÐf=t (2) Trong đó: E; [Pi]: Giá trị nội tại hoặc giá dự kiến mà nhà đầu tư dự kiến sẽ trả cho cổ phiếu tại thời điểm £ dựa trên thông tin có sẵn tại thời điểm đó. Di: Cé tức danh nghĩa hàng năm dự kiến sẽ được trả cho cổ phiếu tại thời điểm i. r: Tỷ lệ chiết khấu mà nhà đầu tư yêu cầu tai thời điểm t.
Cách tiếp cận để giải thích mối liên hệ giữa TTCK và các biến kinh tế vĩ mô thông qua mô hình chiết khấu cổ tức đã được giới thiệu bởi Campbell và Shiller (1988). Họ tuyên bố rằng sự biến động của TTCK bị ảnh hưởng bởi cổ tức trong tương lai và những kỳ vọng liên quan đến chúng vì sự kiện một công ty trả cô tức phụ thuộc vào tình trạng của nền kinh tế (Baroian 2014). Điều này có nghĩa là, vì giá cổ phiếu là giá trị hiện tại đã chiết khấu của dòng tiền kỳ vọng trong tương lai va giá trị cơ bản của cổ phiếu công ty băng với giá trị hiện tại của cô tức dự kiến trong tương lai, nên cổ tức trong tương lai cuối cùng phải phan ánh các hoạt động kinh tế thực (Adeniji 2015). Do đó, giá của cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi bat kỳ thay đôi nào có thể xảy ra trong dòng tiền dự kiến trong tương lai cũng như bởi các yêu tố ảnh hưởng đến ty lệ chiết khấu của các dòng tiền này (Alshogeathri 2011).
Vì vốn chủ sở hữu ở cấp độ tông thé phụ thuộc vào trạng thái của hoạt động kinh tế, nên có khả năng bat kỳ thay đổi nào về mức độ không chắc chắn của các điều kiện kinh tế vĩ mô trong tương lai sẽ gây ra sự thay đôi về biến động lợi tức cô phiếu.