Chương 1: Tổng quan về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát - Chương 2: Thực hạng mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát ở Việt Nam - Chương 3: Giải pháp nhằm cải thiện mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới. 3 Chưong 1 TỎNG QUAN VÈ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LẠM PHÁT 1. NHỮNG VẤN ĐÈ c o BẢN VÈ TỶ GIÁ HÓI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HÓI ĐOÁI 1. Tỷ giá hối đoái 1.
Khái niệm Khái niệm tỷ giá hối đoái từ trước đến nay đã được nhiều học giả và tổ chức trên thế giới đưa ra với các cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau. Tuy nhiên, một điểm chung nhất và được thừa nhận rộng rãi ngày nay trong chế độ tỷ giá thả nổi theo cơ chế thị trường, đó là : “Tỷ giá là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác” ( Nguyễn Văn Tiến 2010, Trg 59). Theo khái niệm này, tỷ giá được hiểu một cách hoàn chỉnh hơn, đặc biệt là trong chế độ tỷ giá thả nổi ngày nay. về vấn đề niêm yết tỷ giá: Đứng trên phương diện quốc gia, có hai cách yết tỷ giá để biểu thị giá cả của đồng tiền ngoại tệ thông qua đồng tiền khác: Yết tỷ giá trực tiếp : Là cách yết tỷ giá trong đó ngoại tệ đóng vai trò là hàng hóa, là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định là một đơn vị, còn nội tệ đóng vai trò là tiền tệ, là đồng tiền định giá, có sổ đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.
Phương pháp yết giá này được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng trong đó có Việt Nam. Yet tỷ giá gián tiếp : Là cách yết tỷ giá khi đồng nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định là bằng một đơn vị còn ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, có sổ đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Một số nước áp dụng phương pháp này như Anh, Ireland, New Zealand, ú c và các nước đồng tiền chung EURO. Trong luận văn này, khi nói đến tỷ giá, ta hiểu đó là giá của đồng ngoại tệ được biểu thị thông qua đồng nội tệ.
Phân loại tỷ giá Tỷ giá có nhiều loại và được phân loại dựa trên các căn cứ sau: a. Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hoi - Tỷ giá mua vào - Bid rate : là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá. - Tỷ giá bán ra - Ask (or Offer) rate: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá. - Tỷ giá giao ngay —Spot rate : là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay nhưng việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không có thỏa thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ hai).
- Tỷ giá kỳ hạn - Forward rate : là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên. - Tỷ giá mở cửa - Opening rate : là tỷ giá áp dụng cho họp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày. - Tỷ giá đóng cửa - Closing rate : là tỷ giá áp dụng cho họp đồng cuối cùng được giao dịch trong ngày. Thông thường ngân hàng không công bổ tỷ giá của tất cả các họp đồng được ký kết trong ngày mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa.
Tỷ giá đóng cửa cũne; là một chỉ tiêu chủ yểu về tình hình biển động tỷ giá trong ngày. Tỷ giá đóng cửa hôm nay không nhất thiết là tỷ giá đóng cửa ngày hôm sau. - Tỷ giá chéo - Crossed rate : là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba (còn gọi là đồng tiền trung gian). - Tỷ giá chuyển khoản - Transfer rate : là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng.
- Tỷ giá tiền mặt - Bank Note rate : là tỷ giá áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng. Thông thường, tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản. - Tỷ giá điện hối : là tỷ giá chuyển ngoại hối bàng điện. Ngày nay do ngoại hối được chuyển chủ yếu là bàng điện nên tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng là tỷ giá điện hối.
- Tỷ giá thư hổi : là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư (không phổ biến) 5 b. Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá - Tỷ giá chính thức - Official rate (ở Việt Nam ngày nay là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàne) : là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ. Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức. Ngoài ra ở Việt Nam tỷ giá chính thức còn là cơ sở để các NHTM xác định tỷ giá kinh doanh trong biên độ cho phép.
- Tỷ giá chợ đen - Black market rate : là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định. - Tỷ giá cổ định - Fixed rate : là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ dao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trừ ngoại hối quốc gia thay đổi. - Tỷ giá thả nổi hoàn toàn - Free Floating Rate: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hể can thiệp.
- Tỷ giá thả nổi có điều tiết - Managed Floating Rate: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Căn cứ mức độ ảnh hưởng lên cán căn thương mại - Tỷ giá danh nghĩa song phương (Bilateral Nominal Exchange Rate - NER): Là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa giữa chúng. Do đó, khi tỷ giá danh nghĩa thay đổi không nhất thiết phải tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Ví dụ, khi nói tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đôla Mỹ là 1 USD = 20.678 VND thì đây là tỷ giá danh nghĩa song phương.
- Tỷ giá thực song phương (Bilateral Real Exchange Rate): Là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở nước ngoài. Do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. 6 - Tỷ giá danh nghĩa đa phương (Tỷ giá trung bình) (Nominal Effective Exchange Rate - NEER): là tỷ giá phản ánh giá cả của một đồng tiền được biểu thị bằng một số các đồng tiền cụ thể khác (hay một rổ các đồng tiền). - Tỷ giá thực trung bình (Real Effective exchange rate - REER): Đe biết được tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại ta phải dùng đến các khái niệm tỷ giá thực trung bình.
REER được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở tất cả các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại. Các nhân tố tác động lên tỷ giá Cũng giống như giá cả của bất cứ hàng hóa nào, trong cơ chế thị trường, giá cả của đồng tiền tự do chuyển đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Như vậy, nếu biết được những nhân tố hình thành và tác động lên cung cầu một đồng tiền, thì đồng thời cũng biết được những nhân tố hình thành và tác động lên tỷ giá. Với các nhân tố khác không đổi, thì mọi nhân tổ làm tăng cầu một đồng tiền trên thị trường ngoại hối, đều làm cho đồng tiền này lên giá và ngược lại.
Trong dài hạn - Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền : Theo lý thuyết ngang giá sức mua, tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để phản ánh tương quan lạm phát giữa chúng theo công thức: AE = ĨL—TL— (7.7) 1 + 7T * Trong đó : AE : tỷ lệ thay đổi tỷ giá sau 1 năm 7t : tỷ lệ lạm phát đồng nội tệ n* : tỷ lệ lạm phát đồng ngoại tệ Vì ĩt và Jt* là tỷ lệ lạm phát nên thường ít thay đổi trong ngắn hạn, và chỉ thay đổi từ từ trong dài hạn, chính vì vậy, tương quan lạm phát giữa 2 đồng tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong dài hạn. - Giá cả thế giới của hàng hóa XNK : Nếu giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu tăng hoặc giá thế giới của hàng hóa nhập khẩu giảm đều có tác dụng cải thiện 7 cán cân thương mại (tăng cung, giảm cầu ngoại tệ), khiến cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá. Ngược lại, nếu giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu giảm hoặc giá thế giới của hàng hóa nhập khẩu tăng đều có tác dụng xấu đến cán cân thương mại (giảm cung, tăng cầu ngoại tệ), khiến cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá. - Thu nhập (thực) của người cư trú và người không cư trú : Neu thu nhập của người cư trú tăng tương đối so với người không cư trú, kích thích tăng nhập khẩu ròng, làm tăng cầu ngoại tệ, khiến cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá.
Neu thu nhập của người không cư trú tăng tương đối so với người cư trú, kích thích tăng xuất khẩu ròng, làm tăng cung ngoại tệ, khiển cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá. - Thuế quan và hạn ngạch trong nước : Neu một quốc gia tăng mức thuế quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm giảm cầu ngoại tệ, có tác dụng làm cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá. Neu một quốc gia giảm mức thuế quan hoặc dờ bỏ hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm tăng cầu ngoại tệ, có tác dụng làm cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá.